co thắt mạch máu não

của bệnh mạch vành; chọn câu chưa chính xác a. Đau thắt ngực ổn định b. Đau thắt ngực không ổn định c. Nhồi máu cơ tim cấp d. Hội chứng vành cấp 17. Các thể bệnh mạch vành thường gặp, ngoại trừ a. Đau ngực ổn định b. Đau ngực không ổn định c. Nhồi máu cơ tim Vỡ mạch máu não (vỡ phình mạch não) thường gặp ở người lớn tuổi và đang ngày càng trẻ hóa. Bệnh rất nguy hiểm bởi nguy cơ gây tử vong là rất cao. Viêm phế quản co thắt là bệnh gì? Làm sao để phát hiện bệnh - chuyên trang tư vấn sức khỏe của Hội nội khoa Việt Nam. Sự co thắt mạch máu não có hồi phục có thể dẫn đến đột quỵ hoặc không. Trong nhiều trường hợp, các triệu chứng đột quỵ xảy ra nhưng sau đó được đẩy lùi hoàn toàn. Chẩn đoán tình trạng đau đầu do co thắt mạch máu não ngoài các triệu chứng của bệnh nhân bao gồm: Đau đầu, giảm thị lực, yếu liệt một bên, rối loạn cảm giác, mất thăng bằng,..,bác sĩ khám, chỉ định chụp CT mạch máu não (có thuốc cản quang - tiêm vào tĩnh mạch khi Co thắt động mạch quay. Co thắt mạch có thể gặp sau khi mở đường vào mạch máu, trong quá trình can thiệp, hoặc sau khi rút sheath là phố biến. Cần nghĩ đến co thắt mạch quay nếu không thể đẩy được dây dẫn qua ĐM quay đoạn cẳng tay, hoặc khó thao tác với các loại ống Dịch Vụ Hỗ Trợ Vay Tiền Nhanh 1s. Mỗi năm, thế giới có gần ca tử vong do vỡ phình mạch máu não hay thường được người dân gọi tắt là vỡ mạch máu não. Trong đó, khoảng 15% người bị vỡ phình mạch máu não tử vong trước khi đến bệnh viện. Hầu hết các trường hợp tử vong là do tổn thương não vì xuất huyết não nhanh và ồ ạt. Vỡ mạch máu não có nguy hiểm không? Câu trả lời là “Có”. Bệnh vỡ phình mạch máu não có thể dẫn đến các biến chứng nguy hiểm, thậm chí gây tử vong nếu không được cấp cứu can thiệp kịp thời. Bài viết sau sẽ phần nào giúp bạn hiểu rõ hơn về các dấu hiệu vỡ mạch máu não, nguyên nhân dẫn đến vỡ mạch máu não cũng như cách điều trị vỡ mạch máu não để có hướng phòng ngừa và can thiệp đúng, chủ động bảo vệ sức khỏe và tính mạng. Vỡ mạch máu não là gì? Các cặp động mạch cảnh và động mạch đốt sống sẽ đưa máu, oxy và chất dinh dưỡng đến não để nuôi các tế bào não. Mỗi phút có khoảng 600-700 ml máu chảy qua động mạch cảnh và các nhánh của chúng để đến não, trong khi có khoảng 100-200 ml máu chảy qua hệ thống động mạch đốt sống. Khi các mạch máu não bị tổn thương, có hiện tượng xơ vữa động mạch, chấn thương, hoặc có tổn thương vi mô của thành động mạch, xuất hiện dòng chảy bất thường ở vị trí phân chia của các động mạch,… thì mạch máu sẽ hình thành túi phình – tức là vị trí phình to bất thường trên mạch máu não ví như cao su bị mỏng trên thành ruột xe. Các túi phình này có nguy cơ bị vỡ bất cứ lúc nào nguy cơ vỡ cao hay thấp tùy thuộc vào áp lực lên túi phình và vị trí của chúng ở trong não, và dẫn đến tình trạng vỡ phình mạch máu não. Lúc này, lưu lượng máu chảy ra sẽ gây kích thích lên hoạt động não bộ, gây tăng áp lực nội sọ. 1 Không chỉ vậy, khi người bệnh bị vỡ mạch máu não, máu bắt đầu lan ra và kích thích màng não, phóng thích các sản phẩm nguy hại và làm hỏng các tế bào não. Đồng thời, khi đó sẽ xuất hiện phản xạ co mạch nơi vỡ, spasm gây thiếu máu vùng não phía sau chỗ vỡ, dẫn đến nhồi máu não. Xuất huyết dưới nhện SAH đe dọa tính mạng với 40% nguy cơ tử vong. Vỡ mạch máu não khiến các tế bào não chết hàng loạt Người bệnh vỡ mạch máu não có thể rơi vào tình trạng mất ý thức, các tế bào não và mô não chết đi hàng loạt dẫn đến yếu liệt tay chân, rối loạn ngôn ngữ, tàn phế, sống đời sống thực vật… thậm chí có thể gây tử vong. Một số thống kê cho thấy, phụ nữ và đặc biệt là những người trên 55 tuổi sẽ có nguy cơ bị vỡ mạch máu não cao hơn nam giới đến 1,5 lần. Dấu hiệu vỡ mạch máu não Để nhận biết trường hợp người bệnh bị vỡ phình mạch máu não, có thể dựa vào các dấu hiệu sau đây 2 Cơn đau đầu xuất hiện đột ngột và dữ dội, không thuyên giảm dù có sử dụng thuốc giảm đau. Xuất hiện hiện tượng tay chân co giật Yếu liệt tứ chi, thậm chí liệt nửa người Tê bì chân tay Cứng cổ và gáy Buồn nôn, ói mửa Thị lực suy giảm, mắt nhạy cảm hơn với ánh sáng, có hiện tượng nhìn mờ hoặc nhìn đôi Nói khó, rối loạn ngôn ngữ Khó nuốt Choáng váng, chóng mặt và mất thăng bằng Mất ý thức, lú lẫn, hôn mê Tử vong Các triệu chứng vỡ mạch máu não gần như tương tự với triệu chứng của một người bệnh bị đột quỵ bởi vỡ mạch máu não là một trong những nguyên nhân gây nên đột quỵ. Người bị vỡ phình mạch máu não có thể có những cơn đau đầu đột ngột và dữ dội Nguyên nhân dẫn đến vỡ mạch máu não Các túi phình ở động mạch và mạch máu bị mỏng, yếu đi và phình to rồi vỡ ra là nguyên nhân dẫn đến vỡ mạch máu não. Trước đây, người ta cho rằng vỡ phình mạch máu não là do di truyền. Tuy nhiên, ngày nay dựa trên các ca bệnh lâm sàng và những nghiên cứu từng thực hiện, có thể thấy tình trạng túi phình bị vỡ xuất phát do sự tác động của một số yếu tố như 3 Tăng huyết áp Tình trạng huyết áp tăng cao, đặc biệt là khi tăng đột ngột sẽ tác động lên túi phình động mạch khiến chúng vỡ ra. Những người ăn nhiều muối, bị rối loạn lipid máu, thường xuyên căng thẳng lo âu, thức khuya, ngủ không đủ giấc,… thường sẽ có nguy cơ bị vỡ phình mạch máu não cao hơn. Do phình mạch máu não Trường hợp phình mạch máu não khiến túi phình to hơn, mỏng, yếu, khả năng đàn hồi và chịu áp lực kém nên tự vỡ ra, dẫn đến vỡ mạch máu não đe dọa tính mạng người bệnh. Dị dạng mạch máu bẩm sinh Vỡ mạch máu não có thể xuất hiện ở trẻ em bị dị dạng mạch máu não bẩm sinh, có bất thường ở các vị trí nối giữa tĩnh mạch và động mạch não. Do mắc bệnh mạch máu Người bệnh sử dụng các loại thuốc chống đông máu, thuốc điều trị u não,… hoặc các bệnh lý mạch máu khác có thể có nguy cơ bị vỡ mạch máu não cao hơn. Ngoài ra, những người mắc tiền sử bệnh mạch máu não thoái hóa dạng bột hoặc xuất huyết não cũng dễ bị bệnh vỡ mạch máu não hơn. Các nguyên nhân khác Bên cạnh những nguyên nhân kể trên, còn nhiều yếu tố khác có thể làm tăng nguy cơ vỡ mạch máu não bao gồm thói quen ăn uống kém lành mạnh, sử dụng chất kích thích, sự thay đổi bất thường của thời tiết,… Vỡ mạch máu não có nguy hiểm không? Theo Brain Aneurysm Foundation Hiệp hội Phình mạch máu não Hoa Kỳ, có đến khoảng 50% trường hợp vỡ phình mạch máu não tử vong. Những trường hợp sống sót cũng gặp các biến chứng nặng nề. Trong đó, 66% người sống qua cơn vỡ phình mạch máu não nguy kịch bị tổn thương hệ thần kinh vĩnh viễn. 4 Các biến chứng mà bệnh nhân bị vỡ mạch máu não có thể phải đối diện bao gồm cả biến chứng Mất ngôn ngữ, nói ngọng, gặp khó khăn trong giao tiếp Liệt tay, chân hoặc hết tứ chi, liệt nửa người Co cứng cơ, khó cử động tay chân Mất khả năng vận động Rối loạn nuốt Xẹp phổi, viêm phổi Nhiễm trùng đường tiết niệu Lo lắng, căng thẳng quá mức, trầm cảm… Trường hợp nặng sẽ dẫn đến tử vong hoặc sống thực vật Vỡ mạch máu não để lại những biến chứng nặng nề cho người bệnh Cách chẩn đoán bệnh vỡ mạch máu não Để chẩn đoán bệnh vỡ phình mạch máu não cũng như tiên lượng bệnh, cần dựa vào tình trạng sức khỏe người bệnh, các dấu hiệu lâm sàng, vị trí túi phòng, tình trạng chảy máu,… Qua đó bác sĩ có thể biết được có còn điều trị kịp hay không và nếu còn có thể điều trị thì nên lựa chọn biện pháp điều trị vỡ mạch máu não phù hợp. Thăm khám lâm sàng Để có thể chẩn đoán bệnh vỡ phình mạch máu não, bác sĩ sẽ dựa vào bệnh sử của người bệnh cũng như các triệu chứng lâm sàng khởi phát để chẩn đoán khả năng người bệnh bị vỡ mạch máu não. Bác sĩ có thể tiến hành kiểm tra, đánh giá các triệu chứng xem người bệnh có bị méo miệng, nói đớ, yếu liệt tay chân, suy giảm thị lực, đau đầu dữ dội,… hay không. Ngoài ra, bác sĩ cũng sẽ thực hiện thăm khám và hỏi về tiền sử bệnh của người được đưa vào cấp cứu cũng như các loại thuốc mà người bệnh đang sử dụng, tiền sử bệnh gia đình,… Các biện pháp xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh Chẩn đoán hình ảnh là phương pháp có tính ứng dụng và hiệu quả cao trong việc chẩn đoán các trường hợp bị vỡ mạch máu não. Theo đó, người bệnh có thể được chỉ định chụp cắt lớp vi tính CT, chụp cộng hưởng từ MRI, chụp mạch máu não CTA, DSA hoặc chọc dò tuỷ sống, xét nghiệm máu,… 5 Chụp CT Kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh không xâm lấn này giúp nhanh chóng phát hiện được các khối máu tụ trong nhu mô não hoặc các khoang màng não. Nhờ đó bác sĩ có thể đánh giá được người bệnh có bị vỡ phình mạch máu não hay không. Ngoài ra, kết quả chụp CT não cũng giúp đánh giá các cấu trúc giải phẫu bên trong não để tìm hướng điều trị phù hợp cho người bệnh bị vỡ mạch máu não. Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh sở hữu máy CT 768 lát cắt hiện đại bậc nhất, hỗ trợ tích cực cho việc chẩn đoán này. Chụp CTA Chụp mạch máu não là phương pháp chẩn đoán giúp phát hiện ra các mạch máu bị phình vỡ hoặc đánh giá tình trạng xơ vữa động mạch. Chụp MRI Chụp MRI có thể kiểm tra chi tiết các nhu mô não và đánh giá tình trạng các mạch máu trên não để biết người bệnh có bị vỡ mạch máu não hay không, cũng như mức độ nghiêm trọng của bệnh. Hiện tại, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh sở hữu máy MRI 3 Tesla là thế hệ mới nhất, hiện đại nhất, hỗ trợ tích cực cho việc chẩn đoán này. Chọc dò tủy sống Chọc dò tủy sống sẽ cho kết quả xem trong dịch não tủy có lẫn với máu hay không, từ đó cân nhắc đánh giá việc vỡ phình mạch máu não hoặc xuất huyết màng não. Chọc dò não tủy giúp phát hiện dịch não tủy có lẫn máu hay không Cách điều trị bệnh vỡ mạch máu não Vỡ phình mạch máu não là một bệnh lý thần kinh có nguy cơ tử vong cao. Do đó, việc tiên lượng bệnh và điều trị cấp cứu càng sớm sẽ càng giảm thiểu các biến chứng và tỷ lệ tử vong do các tế bào não bị tổn thương, giúp nâng cao hiệu quả điều trị và tăng khả năng phục hồi. Mục tiêu điều trị vỡ phình mạch máu não là sửa chữa mạch máu bị vỡ và hậu quả chảy máu để cứu sống người bệnh, ngăn ngừa và giảm thiểu tối đa các biến chứng có thể xảy ra. Hiện nay, hai phương pháp chính để cấp cứu điều trị cho người bệnh bị vỡ mạch máu não chính là can thiệp nội mạch và vi phẫu thuật. Bên cạnh đó, cũng cần điều trị nội khoa trong các ca bệnh vỡ mạch máu não để giúp bệnh nhân ổn định tình trạng sức khỏe, điều trị các biến chứng và hạn chế tối đa các biến chứng kéo dài. Điều trị bằng thuốc Điều trị bằng thuốc thường được kết hợp trước và sau với các phương pháp phẫu thuật hoặc can thiệp nội mạch. Người bệnh sẽ được sử dụng thuốc giảm đau để có thể giảm các triệu chứng đau đầu khi bị vỡ mạch máu não. Ngoài ra, để hạn chế tình trạng chảy máu nghiêm trọng cũng như giúp kiểm soát áp lực nội sọ, bác sĩ sẽ cho người bệnh sử dụng thuốc kiểm soát huyết áp trước khi thực hiện phẫu thuật. Nếu người bệnh có tiền sử động kinh hoặc có nguy cơ co giật thì có thể cần sử dụng thêm thuốc chống động kinh. Phẫu thuật Với các trường hợp vỡ mạch máu não, nên cần được phẫu thuật càng sớm càng tốt. Thời gian tốt nhất là trước 24 giờ kể từ thời điểm vỡ phình mạch máu não và trễ nhất là trong vòng 72 giờ. Bác sĩ sẽ dựa vào tình trạng vỡ mạch máu não và xuất huyết não hiện tại, tuổi tác của người bệnh, tiên lượng tình trạng sức khỏe và khả năng phục hồi để chỉ định phương pháp phẫu thuật phù hợp. Các phương pháp phẫu thuật điều trị vỡ mạch máu não bao gồm Phẫu thuật mở hộp sọ Kỹ thuật này được thực hiện bằng cách cắt xương sọ nhằm tạo một lỗ nhỏ trên hộp sọ. Sử dụng kính vi phẫu, xác định được vị trí mạch máu bị vỡ và dùng kẹp titan gắn vào cổ túi phình, loại bỏ túi phình ra khỏi dòng chảy của máu, giúp máu không chảy vào túi phình nữa mà có thể lưu thông trong lòng mạch bình thường. Kẹp titan được cố định trong não bệnh nhân suốt đời và không được lấy ra. Đặc biệt, kỹ thuật mổ não hiện đại nhất hiện nay là ứng dụng robot Modus V Synaptive. Lần đầu tiên được cấp phép tại Việt Nam, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh sở hữu robot mổ não hiện đại bậc nhất này, kết hợp với kỹ thuật chụp MRI bó sợi thần kinh DTI, cho phép bác sĩ nhìn thấy được hình ảnh các bó dẫn truyền thần kinh tương quan với vùng não bị xuất huyết hoặc tổn thương. Theo đó, từ cuộc mổ mô phỏng bằng Robot, phẫu thuật viên sẽ tránh phạm phải các bó dẫn truyền thần kinh trong lúc phẫu thuật, bảo tồn được các bó sợi thần kinh và các mô não lành, tránh được các biến chứng thần kinh trong và sau phẫu thuật. Bắc cầu động mạch não Với phương pháp bắc cầu động mạch não, bác sĩ lấy một đoạn mạch nhỏ trong cơ thể người bệnh thường lấy mạch từ dưới chân hoặc động mạch thái dương để nối tắt qua động mạch đã vỡ, từ đó tạo đường đi mới cho máu. Biện pháp mở hộp sọ để làm tắc hoàn toàn dòng chảy động mạch và túi phình rồi bắc cầu động mạch não sẽ được thực hiện trong trường hợp động mạch vỡ tổn thương nghiêm trọng hoặc túi phình động mạch lớn, không thể tiếp cận được. Can thiệp mạch não Người bệnh khi bị vỡ mạch máu não có thể được can thiệp mạch bằng cách Nút coil Bác sĩ sẽ thực hiện đưa ống thông vào động mạch ở bẹn và đi vào các mạch máu trong não tới vị trí mạch máu bị vỡ. Thông qua đó, các cuộn dây bạch kim sẽ được đưa vào để lấp đầy túi phình. Khi túi phình lấp đầy, dòng chảy sẽ giảm thấp dần và xuất hiện cục máu đông và bít kín túi phình. Đặt stent mạch não Một kỹ thuật điều trị vỡ mạch máu não khác chính là đặt stent trong lòng mạch máu, tạo giá đỡ trong lòng mạch, bít tắc túi phình mạch, nắn dòng chảy trong lòng mạch não. Bên cạnh đó, bác sĩ có thể sẽ cho người bệnh tiêm thuốc làm giãn mạch máu co thắt để dự phòng co thắt mạch. Tỷ lệ người bệnh bị co thắt mạch sau khi vỡ mạch máu não lên đến 70%. Do đó, để hạn chế tình trạng người bệnh bị buồn ngủ, lú lẫn, yếu nửa người,… khi bị co thắt mạch máu thì bác sĩ sẽ chủ động tiêm thuốc giãn mạch máu từ sớm. Tùy theo tình trạng sức khỏe người bệnh, vị trí mạch máu bị vỡ, kích thước túi phình bị vỡ và điều kiện của cơ sở y tế mà bác sĩ có thể cân nhắc lựa chọn phương pháp điều trị vỡ mạch máu não phù hợp. Thời gian điều trị còn tùy vào khả năng phục hồi của người bệnh nhưng thông thường, từ 10 đến 14 ngày đầu tiên thì người bệnh sẽ phải nằm trong phòng chăm sóc đặc biệt để bác sĩ có thể theo dõi sát sao triệu chứng và can thiệp kịp thời nếu có bất thường xảy ra. Tùy trường hợp mà bác sĩ cân nhắc lựa chọn phương pháp can thiệp vỡ mạch máu não phù hợp Cách phòng ngừa vỡ mạch máu não Để phòng ngừa vỡ mạch máu não dẫn đến đột quỵ, có thể thực hiện các biện pháp phòng ngừa như Thường xuyên tập thể dục, ít nhất 2-3 lần/tuần với mỗi lần tối thiểu 30 phút. Duy trì chế độ ăn uống lành mạnh, hạn chế ăn mặn, thức ăn có chứa chất béo bão hòa và cholesterol. Ăn nhiều rau và trái cây. Không hút thuốc, hạn chế uống rượu bia. Duy trì huyết áp ở mức ổn định. Nghỉ ngơi hợp lý, ngủ đủ 7-8 tiếng mỗi ngày, tránh căng thẳng quá mức. Chủ động thăm khám, tầm soát bệnh lý thần kinh. Câu hỏi thường gặp khi phình mạch máu não bị vỡ Vỡ mạch máu não có cứu hoặc chữa được không? Người bệnh bị vỡ phình mạch máu não nếu được cấp cứu kịp thời và có phương pháp điều trị phù hợp có thể hạn chế tối đa biến chứng và tăng cao khả năng điều trị thành công. Do đó, các trường hợp vỡ mạch máu não nên được đưa đi cấp cứu can thiệp càng sớm càng tốt. Vỡ mạch máu não sống được bao lâu? Bệnh nhân bị vỡ phình mạch máu não có thể sống được bao lâu còn phụ thuộc vào việc người bệnh có được cấp cứu kịp thời hay không, mức độ tổn thương não nặng hay nhẹ, thể trạng người bệnh, chế độ dinh dưỡng, người bệnh có được chăm sóc đúng cách hay không,… Theo đó, nếu người bệnh được cấp cứu trong thời gian vàng thì thời gian khả năng sống và phục hồi cao hơn. Ngoài ra, với người bệnh có mức độ tổn thương não nhẹ thì thời gian sống lâu hơn. Đặc biệt, một yếu tố quan trọng để người bệnh kéo dài thời gian sống chính là giữ tinh thần lạc quan, tích cực phối hợp điều trị bệnh. Vỡ mạch máu não bao lâu mới hồi phục? Thời gian hồi phục với người bệnh bị vỡ mạch máu não cũng tùy thuộc vào việc não tổn thương ở mức độ nào, thời gian được cấp cứu cũng như việc người bệnh có được điều trị bằng các phương pháp phù hợp hay không. Sau khi được điều trị, người bị vỡ mạch máu não có thể mất từ 3 tháng đến vài năm để phục hồi sức khỏe và điều trị hoàn toàn các biến chứng có thể xảy ra. Khi nào cần gặp bác sĩ? Ngay khi có các dấu hiệu vỡ mạch máu não đầu tiên thì người bệnh nên đến gặp bác sĩ để thực hiện thăm khám, chẩn đoán xác định tình trạng sức khỏe và có phương pháp điều trị, can thiệp kịp thời. Để đặt lịch thăm khám, tư vấn các vấn đề về sức khỏe tại Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách vui lòng liên hệ Vỡ mạch máu não là một tình trạng nguy hiểm với tính mạng. Không nên chủ quan mà cần chủ động tầm soát định kỳ, thực hiện các biện pháp phòng ngừa cũng như đến bệnh viện ngay khi có những dấu hiệu đầu tiên. ĐTĐ – Phình mạch não Aneurysm là sự phình to của một phần thành mạch máu não tại nơi thành mạch máu bị yếu. Bệnh có thể gây xuất huyết khoang dưới nhện, tụ máu não, tổn thương não, liệt, hôn mê hay tử vong. Những người dễ bị bệnhNhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ phình mạch não khoảng 5% dân số, bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, riêng vỡ phình mạch hay gặp nhất ở lứa tuổi 50-60, nữ có tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn nam. Đến nay, cơ chế chính xác gây nên túi phình động mạch vẫn chưa được hiểu một cách cặn kẽ. Trước đây, người ta cho rằng do khiếm khuyết bẩm sinh ở thành mạch gây nay, người ta thấy rằng sự hình thành túi phình là một quá trình thoái hóa mạch não, trong đó có các yếu tố liên quan đến bệnh như tuổi càng cao càng bị bệnh nhiều; hút thuốc lá là một yếu tố nguy cơ làm cho mắc bệnh rất cao; bị xơ vữa mạch máu làm suy thành mạch dễ bị phình; bệnh tăng huyết áp dễ gây phình mạch não; người uống nhiều rượu; người nghiện ma túy; bệnh nhân bị chấn thương hoặc tổn thương mạch máu; biến chứng từ một số loại bệnh nhiễm khuẩn đồ tổn thương phình mạch chứng do xuất huyết dưới nhệnCác biến chứng do xuất huyết dưới nhện có thể gồm co thắt mạch não, do khi máu chảy từ túi phình bị vỡ sẽ tiếp xúc với mạch máu bình thường gây kích thích dẫn đến co thắt mạch máu. Nếu co thắt mạch nặng làm thiếu máu não sẽ dẫn đến đột quỵ hoặc tử vong. Co thắt mạch não dễ xảy ra từ ngày thứ 7-10 sau khi vỡ túi phình, kéo dài tới 2-3 tuần. Não úng thủy do máu từ túi phình vỡ vào não thất, làm tắc nghẽn sự lưu thông của dịch não tủy dẫn đến ứ trệ dịch não tủy và gây nên não úng thủy. Hậu quả là áp lực trong sọ sẽ tăng lên, có thể dẫn đến tử vong nếu không điều trị kịp thời. Các biến chứng khác là phù não, động kinh, hội chứng tăng tiết ADH bất thường SIADH, phù phổi do thần kinh, các rối loạn tim chọn điều trịMục tiêu cấp thiết của việc xử lý bệnh nhân bị vỡ phình mạch não là ngăn chặn xuất huyết lần 2, chảy máu lại giảm tỷ lệ tử vong và tàn tật nặng lên đến 60-80%. Một nghiên cứu cho biết, nguy cơ chảy máu lại khoảng 1,5% mỗi ngày, 20% vào cuối tuần thứ 2 và là 50-60% vào cuối 6 nay có 2 phương pháp điều trị là phẫu thuật kẹp túi phình và can thiệp nội mạch hay đặt coil dây xoắn. Phẫu thuật kẹp túi phình mạch não sử dụng kính vi phẫu, nhiều clip kẹp bằng kim loại để kẹp vào cổ túi phình. Sau đó kiểm tra kết quả bằng cách chụp mạch máu não để xem đã đóng kín túi phình và giữ lưu lượng máu não bình thường hay chưa. Can thiệp nội mạch hay dây xoắn là thủ thuật dùng một ống thông luồn qua động mạch đùi ở bẹn và được đưa cẩn thận lên não. Bằng cách đưa một dây xoắn vào túi phình mạch từ bên trong, làm tắc nghẽn lòng mạch nên máu không chảy vào túi phình, ngăn chặn việc vỡ lại túi phình lần thứ 2. Các tổn thương do lần đầu xuất huyết cần phải điều trị nội khoa giúp bệnh nhân hồi phục các thương tổn và ngăn ngừa các biến chứng phát sinh sau phòng ngừa co thắt mạch, cần sử dụng nimodipine trong 21 ngày, bệnh nhân cần được truyền nhiều dịch và giữ ổn định huyết trình hồi phục sau khi vỡ túi phình khác nhau giữa các bệnh nhân, phụ thuộc và mức độ tổn thương trong lần vỡ phình mạch não đầu tiên. Nếu bệnh nhân bị tổn thương nặng từ đầu thì tiên lượng nặng. Trường hợp tổn thương ban đầu nhẹ và điều trị kịp thời thì bệnh nhân mau hồi phục. Tuy nhiên, quá trình hồi phục phải từ vài tháng đến trên một chứng báo hiệu và cấp cứuTúi phình mạch não thường có hai loại triệu chứng một là các triệu chứng từ khi có túi phình đến trước khi bị vỡ; hai là triệu chứng sau khi vỡ túi phình. Tuy nhiên vẫn có một số người dù bị túi phình mạch não nhưng vẫn không có bất kỳ triệu chứng gì trước khi bị vỡ. Dấu hiệu quý báu nhất là triệu chứng báo hiệu trước khi bị vỡ túi phình. Có khoảng 30-60% bệnh nhân thấy “đau đầu cảnh báo” từ nhiều ngày đến nhiều tuần trước khi vỡ túi vậy, giai đoạn này mà phát hiện triệu chứng cần đưa bệnh nhân đến bệnh viện khám nhằm phát hiện bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời. Tại chỗ túi phình, thành mạch máu trở nên mỏng và yếu hơn. Do thành mạch quá mỏng nên dễ vỡ. Nếu vỡ phình máu tràn vào khoang ở xung quanh não, gọi là khoang dưới màng nhện gây nên xuất huyết khoang dưới nhện. Máu có thể tràn vào dịch não tủy hoặc vào nhu mô não gây nên tụ máu trong não. Khi đó có thể gây tổn thương hoặc phá hủy các tế bào não. Nếu vỡ phình nặng, tình trạng xuất huyết có thể gây tổn thương não, liệt, hôn mê và tử phình thường bị vỡ đột ngột, tại thời điểm vỡ túi phình mạch não bệnh nhân thường có các triệu chứng như sau đột ngột đau đầu dữ dội, cảm giác đau như bị dao đâm; cứng cổ; buồn nôn và nôn thực sự; mờ mắt và rối loạn lời nói; tê và yếu một phần cơ thể; có thể có co giật; nhạy cảm với ánh sáng; mất ý thức. Các triệu chứng này là rất nguy cấp, bệnh nhân cần được đưa vào viện cấp cứu chẩn đoán túi phình mạch não, bác sĩ sẽ cho bệnh nhân chụp cắt lớp vi tính CT sọ não. ối với bệnh nhân tự nhiên đột ngột đau đầu dữ dội là khi túi phình vỡ, chảy máu xảy ra ở trong khoang dưới màng nhện, lúc đó chụp cắt lớp não sẽ phát hiện được tổn thương này. Vị trí máu dưới màng nhện trên phim CT có thể cho biết vị trí túi phình. Chụp mạch não số hóa xóa nền DSA là kỹ thuật tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán phình mạch động mạch não xác định được kích thước, hình ảnh và vị trí chính xác của túi phình. Chụp CT mạch máu não CTA có thể phát hiện tới 97% các túi phình mạch não. Chụp cộng hưởng từ MRI và chụp MR mạch máu MRA giúp dựng hình não trong không gian 3 chiều. Chụp MRA có thể phát hiện túi phình mạch não với độ nhạy 87% và độ đặc hiệu là 92%.Nguồn Lượt xem xếp hạng 5 sao xếp hạng 5 sao xếp hạng 5 sao – xếp hạng 5 sao ý Việc đáp ứng với các liệu trình điều trị, máy, thiết bị trợ giúp là khác nhau tùy thuộc cơ địa mỗi người ! Những thông tin y học trên website chỉ mang tính tham khảo, bạn không được tự ý áp dụng nếu chưa được sự chỉ dẫn của thầy thuốc !Biên tập BS Mai Trung Dũng Bác sĩ chuyên khoa cấp II Đại học y Hà hội - 2015 Trưởng Khoa Phục hồi chức năng Bệnh viện Quân y 354 Uỷ viên BCHTW Hội Phục hồi chức năng Việt NamCó thể bạn quan tâm Co thắt mạch máu não có thể xảy ra do lấp mạch do cục huyết khối nhỏ làm nghẽn mạch máu đến não, xơ vữa động mạch, mạch máu nhỏ, đái tháo đường, tăng huyết áp, hẹp động mạch cảnh.... Điển hình co thắt mạch máu não là xảy ra nhanh và hồi phục nhanh do tắc nghẽn tạm thời nguồn cung cấp máu đến não gây tai biến thoáng qua. 1. Co thắt mạch não là gì? Co thắt mạch não là nguyên nhân gây nên tình trạng đột quỵ ở người bệnh, được nhận đinh là một trong những cơn tai biến mạch máu não thoáng qua. Sau khi đột quỵ sẽ gây ảnh hưởng đến các vùng chức năng có liên quan, và độ nặng phụ thuộc vào vị trí mạch máu bị tắc và độ rộng của vùng não bị tổn thắt mạch não có thể được gây ra bởi lấp mạch do cục huyết khối nhỏ cục huyết khối được hình thành từ các mảnh calcium và mảng chất béo làm nghẽn mạch máu đến não, xơ vữa động mạch, mạch máu nhỏ, đái tháo đường, tăng huyết áp, hẹp động mạch cảnh.... Điển hình xảy ra nhanh và hồi phục nhanh do tắc nghẽn tạm thời nguồn cung cấp máu đến não gây tai biến thoáng đau đầu vận mạch là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên co thắt của các mạch máu vùng đầu và trong sọ não. Thường gặp nhất là co thắt động mạch thái dương. Tình trạng co thắt của động mạch sẽ làm cho một số vùng của não và các cơ vùng đầu cổ bị thiếu máu tạm thời và gây ra phản ứng đau khi trong điều kiện thiếu máu, oxy nuôi dưỡng. 2. Nhận diện cơn co thắt mạch não Trường hợp bệnh nhân liệt dây thần kinh số VII là dấu hiệu nhận biết cơn co thắt mạch não Các dấu hiệu nhận biết cơn co thắt mạch não bao gồmRối loạn ngôn ngữ như nói khóSuy giảm chức năng thị lực ở 1 hoặc 2 bên, nhìn đôiLiệt dây thần kinh số VII, liệt vận động 1 bênRối loạn nuốt như khó loạn cảm giác 1 bênChóng mặt, mất thăng bằngCo giậtHạ hoặc tăng đường máuTheo thống kê, có khoảng 10-20% bệnh nhân sẽ xuất hiện đột quỵ sau 90 ngày; 50% bệnh nhân sẽ bị đột quỵ trong vòng 48 giờ đầu; 1/3 bệnh nhân nếu không được điều trị sẽ xuất hiện đột quỵ trong vòng 5 năm. 3. Chăm sóc và điều trị cơn co thắt mạch máu não Sau khi nhập viện, cần khám lâm sàng, cận lâm sàng và đưa kế hoạch điều trị cho người bệnh trong 24 giờ sau khi nhập viện. Đối với các bệnh nhân có nguy cơ mắc đột quỵ cao cần điều trị chuyên sâu và theo dõi chặt điều trị cơn co thắt mạch não cấp gồm Aspirin Anti; Combined aspirin + dipyridamole; Clopidogrel; Heparin; Warfarin; ưu hóa lưu lượng máu não Tránh các thuốc hạ áp, truyền muối sinh lý, tránh gối đầu bệnh nhân ổn định trong 24h Dùng lại thuốc hạ huyết áp nhưng thận trọng ở các bệnh nhân hẹp mạch nặng động mạch viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là cơ sở y tế chất lượng cao tại Việt Nam với đội ngũ y bác sĩ có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo bài bản, chuyên sâu trong nước và nước ngoài, giàu kinh thống thiết bị y tế hiện đại, tối tân, sở hữu nhiều máy móc tốt nhất trên thế giới giúp phát hiện ra nhiều căn bệnh khó, nguy hiểm trong thời gian ngắn, hỗ trợ việc chẩn đoán, điều trị của bác sĩ hiệu quả nhất. Không gian bệnh viện được thiết kế theo tiêu chuẩn khách sạn 5 sao, mang đến cho người bệnh sự thoải mái, thân thiện, yên tâm. Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi bác sĩ Ngoại thần kinh, Khoa Ngoại tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park. Tai biến mạch máu não bao gồm Nhồi máu não và xuất huyết não, màng não. Đây là bệnh lý gây tử vong hàng đầu ở Việt Nam và Thế Giới. Để lại nhiều di chứng và tốn kém chi phí điều trị. Nhồi máu não Chiếm khoảng 80% đột quỵ, là tình trạng một phần não bị gián đoạn hoặc giảm nặng khiến vùng não đó bị thiếu oxy và dinh dưỡng, do tế bào thần kinh thiếu máu huyết não - màng nãoKhoảng 20% đột quỵ, do vỡ mạch máu chảy vào nhu mô hoặc não thất, gây chèn ép tế bào não huyết màng não xuất huyết dưới nhện tự phát đa số do vỡ túi phình động mạch não. 1. Nhồi máu não và xuất huyết não, màng não 2 dạng của đột quỵ não Đột quỵ não là hội chứng được đặc trưng bởi sự mất đột ngột cấp tính các chức năng của não thường khu trú khiến vùng não đó bị thiếu oxy và dinh dưỡng, tồn tại quá 24 giờ hoặc tử vong trước 24 giờ. Thiếu oxy não chỉ trong vòng vài phút, tế bào não sẽ chết. Vùng tế bào não bị tổn thương nặng hoặc lan rộng có thể gây tử vong cho bệnh nhân hoặc để lại di chứng nặng nề về rối loạn vận động, nhận thức, ngôn ngữ, thị quỵ não được chia làm 2 loạiNhồi máu não thiếu máu não cục bộ Chiếm 80% các ca bị đột quỵ, xảy ra khi mạch máu cung cấp cho não bị tắc bởi cục máu đông, huyết khối, hẹp xơ vữa động mạch gây ra vùng hoại tử và thiếu máu huyết não - màng nãoChiếm 20% các ca bị đột quỵ, xảy ra do rách thành động mạch gây ra máu chảy vào trong nhu mô não hay não thất, hay gặp do tăng huyết áp, bệnh lý tinh bột hoặc do vỡ dị dạng mạch máu não, bệnh MoyaMoya...Chảy máu màng não hay chảy máu khoang dưới nhện do nguyên nhân vỡ túi phình động mạch nãoHiện nay, người bị đột quỵ đang có xu hướng trẻ hóa. Một phần là do sự thay đổi về lối sống như ít vận động, làm việc với áp lực cao cùng sự xuất hiện của các bệnh lý liên quan đến mạch máu như tăng huyết áp, đái tháo đường, béo phì, rối loạn lipid máu. Phần còn lại là do sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán ngày càng có độ chính xác cao hơn. 2. Nguyên nhân gây nhồi máu não và xuất huyết não Tăng huyết áp có thể là nguyên nhân dẫn đến nhồi máu não và xuất huyết não Nguyên nhân gây nhồi máu nãoCó 5 nhóm nguyên nhân chính gây nhồi máu não làTắc hoặc hẹp các động mạch lớnTổn thương các động mạch nhỏ gặp nhiều ở bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo nhân từ các bệnh lý tim mạch như rối loạn nhịp tim, bệnh hẹp hở van tim, suy tim ... tạo điều kiện hình thành các cục máu đông đi đến bệnh lý mạch máu có khả năng cao tạo cục máu đông khác như bệnh lý đông máu, bệnh tế bào máu, bất thường bẩm sinh của mạch khoảng 1/4 trường hợp không tìm thấy nguyên Nguyên nhân gây xuất huyết não- màng nãoXuất huyết nhu mô não, hạch nền hay não thấtTăng huyết áp làm tăng áp lực quá mức lên những thành mạch đã bị tổn thương do xơ vữa động bệnh dùng thuốc kháng đông hay thuốc làm mỏng mạch máu có tăng nguy cơ ở nhóm đột quỵ xuất vỡ dị dạng động tĩnh mạch AVM là một thông nối bất thường giữa động mạch và tĩnh Moya moyaXuất huyết màng não hay xuất huyết khoang dưới nhệnLà dạng đột quỵ xảy ra khi mạch máu trên bề mặt của não vỡ, dẫn đến máu chảy vào khoang dưới nhện và vùng nền xuất huyết dưới nhện tự phát do vỡ túi phình mạch máu não. 3. Nhóm đối tượng có nguy cơ cao bị nhồi máu não và xuất huyết não, khoang dưới nhện Béo phì làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch Tăng huyết áp động mạch Tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ dẫn đến đột quỵ. Khi huyết áp tăng cao, thành mạch máu dễ bị tổn thương do áp lực dòng máu mạnh hơn. Huyết áp cao cũng làm tăng tính thấm của thành mạch đối với các lipoprotein máu, do đó làm vữa xơ động mạch phát triển dễ hình thành các tai tháo đường Đái tháo đường làm tăng nguy cơ bị thiếu máu não cục bộ. Điều trị tốt đái tháo đường sẽ làm giảm khả năng đột quỵ thiếu máu bệnh lý về tim Nhiều bệnh tim có thể tăng nguy cơ đột quỵ thiếu máu não bao gồm rung nhĩ, viêm màng trong tim, hẹp van hai lá, nhồi máu cơ tim diện rộng, bệnh cơ tim, thông liên nhĩ, phình thành nhĩ trái và lipid máu Tăng lipid máu làm tăng nguy cơ bị xơ vữa động mạch. Vì vậy để dự phòng đột quỵ người bệnh luôn phải giữ lipid máu ơ mức bình thuốc lá Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ nhồi máu não. Thành phần trong thuốc lá làm giảm nồng độ HDL trong máu, gây tổn thương thành động mạch, tạo điều kiện cho vữa xơ động mạch phát rượu Nghiện rượu làm tăng nguy cơ bị ngộ độc rượu cấp hoặc mãn tính - là các yếu tố nguy cơ gây ra đột quỵ biến thiếu máu não thoáng qua và tiền sử bị đột quỵ Thiếu máu não thoáng qua phải được chẩn đoán và điều trị tốt để dự phòng đột quỵ thiếu máu não thực sự. Nó càng xuất hiện nhiều lần khả năng xuất hiện đột quỵ loại thiếu máu não càng cao. Bệnh nhân có tiền sử đột quỵ có nguy cơ tái phát trở lại và khả năng đó cao hơn sự xuất hiện của thiếu máu não thoáng phì Béo phì làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và như vậy có thể là yếu tố thứ phát của đột quỵ thiếu máu não thông qua bệnh động mạch cảnh Bệnh xơ vữa động mạch cảnh là một trong những nguyên nhân chính của nhồi máu não trên lâm sàng. Lớp áo trong của thành mạch máu bị tổn thương tạo điều kiện thuận lợi cho dính kết tiểu cầu. Từ đó, các yếu tố đông máu của tiểu cầu và huyết tương được huy động làm dính kết các tiểu cầu và hồng cầu gây tắc mạch dần dần. Chóng mặt, đau đầu có thể là dấu hiệu cảnh báo đột quỵ Các triệu chứng như chóng mặt, đau đầu, tê yếu tay chân, méo miệng, nói đớ, hôn mê, co giật... là những dấu hiệu cảnh báo đột thấy các dấu hiệu trên, cần đưa bệnh nhân vào viện sớm để khám và điều trị kịp thời. Nếu quá thời gian cửa sổ điều trị, bệnh nhân có thể xuất hiện các biến chứng dẫn đến tàn phế nặng bệnh nhân có dấu hiệu FAST tiếng Anh méo miệng, tay chân yếu, thay đổi giọng nói, đưa ngay vào bệnh viện để cấp cứu kịp khi chờ xe cấp cứu, nếu người bệnh tỉnh, đặt nằm nghiêng về bên lành, đầu nâng lên nhẹ. Không cho bệnh nhân ăn hoặc uống bất kỳ thứ gì. Kiểm tra đường thở nhằm lấy ra các dị vật hoặc lau đờm dãi trong miệng có thể gây khó thở. Nếu người bệnh liệt, khi vận chuyển cần trợ giúp và đặt nghiêng về bên lành. Nếu bệnh nhân không thấy mạch hoặc ngưng thở, cần tiến hành ép tim ngoài lồng ngực 80-100 lần một phút cho đến khi tim đập lại.>> Xem thêm Thực phẩm bảo vệ sức khỏe Nattou Ichou của Dược sĩ, Thạc sĩ Phạm Thị Kim Dung - Dược sĩ Pha chế thuốc - Khoa Dược - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Times City 5. Tiên lượng và biến chứng của bệnh Tiên lượng bệnhTỉ lệ tử vong do loại bệnh này đang giảm xuống. Theo đó, hơn 75% bệnh nhân sống sót trong năm đầu sau lần đột quỵ đầu tiên, và hơn một nửa sống sót sau 5 người bị đột quỵ thiếu máu não có nhiều cơ hội sống sót hơn so với những người bị đột quỵ xuất quỵ xuất huyết não-màng não gây ra nhiều tác động xấu đến não như phá hủy tế bào não, tăng áp lực nội sọ và co thắt mạch. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy các trường hợp sống sót của đột quỵ xuất huyết có cơ hội lớn hơn trong việc hồi phục chức năng so với đột quỵ nhồi Biến chứng của bệnhYếu liệt cơ thể và thường kèm theo đau và co cứng là những biến chứng thường gặp của thuộc vào mức độ của bệnh, mà quyết định những suy yếu này có ảnh hưởng đến khả năng đi lại, đứng lên từ ghế, tự ăn uống, đến viết hay dùng máy vi tính, lái xe, và nhiều hoạt động khác hay không. 6. Phòng tránh đột quỵ Chế độ ăn uống nhiều rau xanh tốt hơn cho tim mạch Điều trị nguyên nhân Các bệnh như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh tim mạch, rối loạn lipid máu cần được kiểm soát bệnh. Người bệnh cần tái khám định kỳ và điều trị theo hướng dẫn của nhân viên y độ ăn uống hợp lý Người bệnh cần giảm chất béo, giảm mặn THA, giảm tinh bột, đường ĐTĐ. Thay vào đó, tăng cường ăn nhiều rau xanh, thể thao mỗi ngày 30 phút, ngưng thuốc lá, rượu bia, tránh béo có các dấu hiệu nghi ngờ đột quỵ, cần cho người bệnh nhập viện ngay lập tức. Hiện nay, Chụp cộng hưởng từ - MRI/MRA được coi là công cụ “vàng” tầm soát đột quỵ não. MRI được sử dụng để kiểm tra tình trạng hầu hết các cơ quan trong cơ thể, đặc biệt có giá trị trong chụp ảnh chi tiết não hoặc thần kinh cột sống. Do có độ phân giải và tương phản tốt nên hình ảnh MRI cho phép phát hiện ra các điểm bất thường ẩn sau các lớp xương mà các phương pháp tạo ảnh khác khó có thể nhận ra. MRI có thể cho kết quả chuẩn xác hơn so các kỹ thuật dùng tia X ngoại trừ kỹ thuật chụp DSA đánh giá mạch máu trong chẩn đoán các bệnh lý não, tim mạch, đột quỵ,... Hơn nữa, quá trình chụp bằng MRI không gây tác dụng phụ như trong chụp X-quang hay cắt lớp vi tính CT.Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec hiện đang sở hữu Hệ thống chụp MRI Tesla được trang bị tối tân bởi hãng GE Healthcare Mỹ với chất lượng hình ảnh cao, cho phép đánh giá toàn diện, không bỏ sót tổn thương mà lại giảm được thời gian chụp. Công nghệ Silent giúp hạn chế gây ra tiếng ồn, tạo sự thoải mái và giảm căng thẳng cho khách hàng trong quá trình chụp, giúp cho việc thu hình đạt chất lượng tốt hơn và rút ngắn thời gian hệ thống MRI tối tân và áp dụng các phương pháp can thiệp mạch não hiện đại, đội ngũ chuyên gia chẩn đoán hình ảnh và thần kinh giàu kinh nghiệm, được đào tạo bài bản, Vinmec là địa chỉ khám, tầm soát nguy cơ đột quỵ uy tín được khách hàng tin thời gian qua; Vinmec đã cấp cứu, điều trị kịp thời thành công nhiều trường hợp đột quỵ, không để lại di chứng Cứu sống người bệnh bị 2 lần đột quỵ não liên tiếp; Ứng cứu nữ du khách nước ngoài thoát khỏi “cửa tử” đột quỵ;... Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Đột nhiên đau đầu dữ dội Cảnh giác dị dạng mạch máu não Lưu ý nhất định phải nhớ khi sơ cứu tại chỗ người bị đột quỵ Hướng dẫn sơ cứu đột quỵ tại nhà HỏiChào bác sĩ,Em bị đau đầu, em chụp CT thì bác sĩ nói em bị co thắt mạch máu não. Bác sĩ nói bệnh này không chữa được. Vậy bác sĩ cho em hỏi có thể điều trị co thắt mạch máu não không? Em cảm ơn bác hàng ẩn danhTrả lờiĐược giải đáp bởi Thạc sĩ, Bác sĩ Tống Văn Hoàn - Khoa Hồi sức Cấp cứu, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà bạn,Với câu hỏi “Có thể điều trị co thắt mạch máu não không?”, bác sĩ xin giải đáp như sauChẩn đoán tình trạng đau đầu do co thắt mạch máu não ngoài các triệu chứng của bệnh nhân bao gồm Đau đầu, giảm thị lực, yếu liệt một bên, rối loạn cảm giác, mất thăng bằng,..,bác sĩ khám, chỉ định chụp CT mạch máu não có thuốc cản quang - tiêm vào tĩnh mạch khi chụp phim, hoặc chụp cộng hưởng từ sọ não có chụp mạch máu não MRI sọ não. Sau khi có kết quả, bác sĩ sẽ đưa ra phác đồ điều trị cụ thể. Bệnh hoàn toàn có thể điều trị dự phòng ổn định nên bạn yên bạn còn thắc mắc về co thắt mạch máu não, bạn có thể đến bệnh viện thuộc Hệ thống Y tế Vinmec để kiểm tra và tư vấn thêm. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Vinmec. Chúc bạn có thật nhiều sức trọng! Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Chảy máu dưới nhện là chảy máu đột ngột vào khoang dưới nhện. Nguyên nhân phổ biến nhất của chảy máu tự phát là vỡ phình động mạch. Các triệu chứng bao gồm đau đầu nặng đột ngột, thường kèm theo mất ý thức hoặc suy giảm ý thức. Co thắt mạch thứ phát gây ra thiếu máu não cục bộ, kích thích màng não, và tràn dịch não gây đau đầu dai dẳng và sững sờ là thường gặp. Chẩn đoán bằng CT hoặc MRI; nếu hình ảnh là bình thường, chẩn đoán bằng xét nghiệm dịch não tủy. Điều trị với các biện pháp hỗ trợ và phẫu thuật hoặc can thiệp nội mạch, sẽ tốt hơn nếu được thực hiện trong một trung tâm đột quỵ toàn diện. Các nguyên nhân ít gặp hơn là phình động mạch hình nấm, dị dạng động tĩnh mạch và bệnh lý chảy máu. Triệu chứng và dấu hiệu của SAH Đau đầu thường nặng, đạt cường độ nặng nhất trong vài giây. Mất ý thức có thể xảy ra, thường là ngay lập tức nhưng đôi khi trong vòng vài giờ. Thiếu sót thần kinh nặng có thể có và trở thành không hồi phục trong vòng vài phút hoặc vài giờ. Hệ thống cảm giác có thể bị suy giảm, và bệnh nhân có thể trở nên bồn chồn, bứt rứt không yên. Động kinh có thể xảy thường, cổ không cứng ngay từ đầu, trừ khi có thoát vị hạnh nhân tiểu não. Tuy nhiên, trong vòng 24 giờ, viêm màng não hóa học gây ra các dấu hiệu màng nào rõ ràng hơn, nôn, và đôi khi là đáp ứng duỗi bàn chân hai bên. Tần số tim và tần số thở thường là bất thường. Sốt, đau đầu liên tục, và lú lẫn thường gặp trong 5 đến 10 ngày đầu tiên. Tràn dịch não thứ phát có thể gây đau đầu, trạng thái trơ với các kích thích, và thiếu sót vận động kéo dài trong vài tuần. Chảy máu tái phát có thể gây ra các triệu chứng tái diễn hoặc mới. Thường là CT không tiêm thuốc đối quang và, nếu âm tính, chọc dịch não tủy Chẩn đoán chảy máu dưới nhện được gợi ý bởi các triệu chứng đặc trưng. Xét nghiệm cần được thực hiện càng nhanh càng tốt, trước khi tổn thương trở thành không hồi không tiêm thuốc đối quang được thực hiện trong vòng 6 giờ từ khi khởi phát triệu chứng. MRI có độ nhạy tương đương nhưng ít có khả năng hơn để thực hiện được ngay. Kết quả âm tính giả xuất hiện nếu thể tích máu chảy là nhỏ hoặc nếu bệnh nhân thiếu máu đến mức máu đồng tỷ trọng với nhu mô não. Kết quả dịch não tủy gợi ý chảy máu dưới nhện bao gồm Nhiều tế bào hồng cầu RBCsCó màu vàngTăng áp lựcHồng cầu trong dịch não tủy cũng có thể do tổn thương mạch máu trong quá trình chọc dịch não tủy. Nghi ngờ tổn thương mạch máu trong quá trình chọc dịch não tủy nếu số lượng hồng cầu giảm dần trong các ống dịch não tủy sau trong cùng một lần thực hiện thủ thuật. Khoảng 6 giờ trở đi sau chảy máu dưới nhện, hồng cầu trở nên có khía và bị phân hủy, dẫn đến có lớp sắc tố vàng trên bề mặt dịch não tủy và nhìn thấy hồng cầu có khía qua kính hiển vi; những kết quả này thường chỉ ra rằng chảy máu dưới nhện đã có trước khi chọc dịch não tủy. Nếu vẫn còn nghi ngờ, vẫn nên coi như là một trường hợp có chảy máu dưới nhện, hoặc chọc dịch não tủy lại trong 8 đến 12 bệnh nhân chảy máu dưới nhện, chụp động mạch não thường quy được thực hiện càng sớm càng tốt sau khởi phát chảy máu; các phương pháp thay thế bao gồm chụp cộng hưởng từ mạch máu và chụp CT mạch máu. Tất cả 4 động mạch 2 động mạch cảnh và 2 động mạch đốt sống nên được tiêm thuốc cản quang vì có tới 20% bệnh nhân phần lớn là nữ có nhiều phình động chảy máu dưới nhện, điện tim đồ có thể có ST chênh lên hoặc chênh xuống. Nó có thể gây ngất, giống nhồi máu cơ tim. Các bất thường khác có thể có trên điện tâm đồ bao gồm khoảng QRS hoặc QT kéo dài và sóng T âm, sâu, đối xứng. Khoảng 35% bệnh nhân tử vong sau chảy máu dưới nhện do vỡ phình động mạch lần đầu tiên; 15% khác chết trong vòng vài tuần do vỡ tái phát. Sau 6 tháng, vỡ lần 2 xảy ra với tỷ lệ khoảng 3%/năm. Nhìn chung, tiên lượng xấu với phình động mạch, tốt hơn với dị dạng động tĩnh mạch, và tốt nhất khi chụp mạch cả 4 mạch không phát hiện tổn thương, trường hợp này được cho là nguồn gốc chảy máu nhỏ và có thể tự cầm. Trong số những người sống sót, tổn thương thần kinh hay gặp, ngay cả khi đã điều trị tối ưu. Điều trị tại một trung tâm đột quỵ toàn diện Nicardipine nếu huyết áp động mạch trung bình > 130 mm Hg Nimodipin để dự phòng co thắt mạch não Gây tắc túi phình động mạch là nguyên nhân chảy máu Bệnh nhân chảy máu dưới nhện cần được điều trị tại một trung tâm đột quỵ toàn diện nếu có thể. Bắt buộc phải nghỉ ngơi tại giường. Điều trị triệu chứng đối với bồn chồn và đau đầu. Thuốc làm mềm phân được sử dụng dùng để tránh táo bón, tình trạng có thể dẫn đến căng chỉ định thuốc chống đông và chống tiểu cầu. Co thắt mạch não được dự phòng bằng nimodipine 60 mg uống mỗi 4 giờ trong 21 ngày, nhưng huyết áp cần phải được kiểm soát con số được cân nhắc thường là huyết áp động mạch trung bình 70 đến 130 mm Hg và huyết áp tâm thu từ 120 đến 185 mm Hg.Nếu có dấu hiệu lâm sàng của tràn dịch não cấp, cần xem xét chỉ định dẫn lưu não động mạch được làm tắc để giảm nguy cơ tái chảy máu. Có thể can thiệp nút coils nội mạch trong khi chụp mạch để gây tắc phình động mạch. Bên cạnh đó, nếu phình động mạch dễ tiếp cận, phẫu thuật kẹp clip hoặc đặt stent túi phình động mạch có thể được thực hiện, đặc biệt ở bệnh nhân có khối máu tụ có thể phẫu thuật hút ra được hoặc bệnh nhân có tràn dịch não cấp. Nếu bệnh nhân tỉnh, hầu hết các bác sĩ phẫu thuật thần kinh mạch máu sẽ tiến hành phẫu thuật trong vòng 24 giờ đầu để giảm nguy cơ chảy máu tái phát và các nguy cơ do "não tức giận". Nếu > 24 giờ đã trôi qua, một số bác sĩ phẫu thuật thần kinh trì hoãn phẫu thuật đến 10 ngày; cách tiếp cận này làm giảm các nguy cơ do "não tức giận" nhưng làm tăng nguy cơ chảy máu tái phát và tử vong chung. 1. Hemphill JC, Greenberg SM, Anderson CS, et al Guidelines for the management of spontaneous intracerebral hemorrhage A guideline for healthcare professionals from the American Heart Association/American Stroke Association. Stroke 462032–2060, 2015. Các biến chứng có thể xảy ra sau chảy máu dưới nhện bao gồm viêm màng não hóa học, co thắt mạch não, tràn dịch não, chảy máu tái phát và phù ngờ chảy máu dưới nhện nếu đau đầu dữ dội lúc khởi phát và đạt cường độ mạnh nhất trong vòng vài giây hoặc gây mất ý chảy máu dưới nhện được xác định, cần đánh giá cả hai động mạch cảnh và động mạch đốt sống bằng phương pháp chụp động mạch não thường quy, chụp cộng hưởng từ mạch máu, hoặc chụp CT mạch máu vì nhiều bệnh nhân có nhiều phình động có thể, hãy chuyển bệnh nhân đến một trung tâm đột qụy toàn diện để điều trị.

co thắt mạch máu não