cái chết của la hầu la

Cậu bé ngây thơ Rahula (La Hầu La) làm theo lời mẹ dạy, đến gần Đức Phật và, một cách vô cùng kính mến, bạch: “Bạch Sa Môn, chỉ cái bóng của Ngài cũng làm cho con hết sức mát mẻ an vui.”. Khi độ ngọ xong, Đức Phật rời hoàng cung. Rahula theo chân Ngài và bạch: “Xin 07 Tôn Giả La Hầu La, Mật Hạnh Đệ Nhất. Tục ngữ Việt Nam có câu: "Con vua thì được làm vua, con sãi giữ chùa thì quét lá đa". Câu tục ngữ con vua quan bao giờ cũng được che chở và tiếp tục chức tước, còn dân thì cha truyền con nối cày sâu cuốc bẩm, còn mang ý nghĩa nói Trẻ, đẹp và ác dạ, hầu hết mọi người đồng ý rằng đó là định mệnh - cô ta đáng phải chết như một con rắn! Tuy nhiên tại nhà của cha mình bên bờ sông Nile, cô con gái Renisenb của giáo sĩ lại nghĩ rằng cái chết của người phụ nữ thật đáng ngờ. Phẩm chất của Lão Hạc. – Là một người có tnóng lòng nhân hậu: Lão Hạc là fan dân cày ngay thật, hiền hậu, chất phác. Đến ngay lập tức với Cậu Vàng, lão cũng đối xử quan trọng đặc biệt, xuất sắc như so với đứa con của chính mình vậy. Lão cho nó ăn uống, bắt Giai thoại về cái chết của Nguyễn Trãi được truyền tụng qua sự tích Rắn báo oán rất nổi tiếng. Theo Nguyễn Đổng Chi ghi nhận và phân tích, đây là câu chuyện do tầng lớp Nho sĩ bịa đặt ra nhằm huyền thoại hóa tấn thảm kịch của Nguyễn Trãi, xóa mờ sự thật về Sau khi Hiroshi bị bắt.Thì Rider lập tức lên đường giải cứu.khi anh tới nơi anh gặp Hiroshi nhưng mà là con quái dơi hoá thành để phục kích Rider.Tuy nhiên n Dịch Vụ Hỗ Trợ Vay Tiền Nhanh 1s. Đức Phật sau khi giác ngộ đã trở về quy y cho Nàng Gia-du-đà-la, La-hầu-la và hướng dẫn họ tu tập. Vậy vợ con của Thái tử Tất Đạt Đa đã nhập diệt khi nào? Trước hay sau khi đức Phật nhập diệt? Tỳ-kheo ni Gia-du-đà-la, mẫu thân của La-hầu- la nhập diệt vào năm bảy mươi tám tuổi, trước khi đức Phật nhập diệtPhần này nói về sự nhập diệt của Nàng Gia-du-đà-la vợ và tôn giả La-hầu-la Con trai duy nhất của Thái tử Tất Đạt Đa nhập diệt khi nào. Những nhân vật oanh liệt trong Tăng đoàn thuở ấy là Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Đại Ca-diếp, A-nan… còn La-hầu-la thì không, một người nghiêm túc trong mật hạnh trì giới, chỉ im lặng tu tập, im lặng không tranh đua với thế gian. Hoặc là vì La-hầu-la quan hệ đến đức Thế Tôn, nên Ngài đặc biệt hạn chế tôn giả. Chúng ta cũng biết La-hầu-la có tư cách nhu thuận, bẩm chất kiên cường, nhưng chúng ta cũng thấy trong sinh hoạt của một vị Tỳ-kheo Tôn giả không phải là người sôi nổi. Cho nên trong kinh sử không thấy ghi lại những sự tích La-hầu-la nhiệt tình thuyết pháp, hay nghị luận với ngoại đạo. Đúng như lời đức Thế Tôn nói, Tôn giả là người nghiêm túc trong tế hạnh, trong giới luật, là một vị Mật hạnh đệ nhất. La-hầu-la nhập diệt khi nào, cũng như năm tháng đản sanh của Tôn giả, có hai truyền thuyết. Có thuyết nói, thái tử Tất-đạt-đa năm mười chín tuổi hạ sanh La-hầu-la. Có thuyết lại nói đến năm Ngài hai mươi lăm tuổi mới hạ sanh La-hầu-la. Về năm diệt cũng có hai thuyết, một thuyết nói Tôn giả nhập Niết-bàn trước đức Phật vài năm, thuyết khác nói, khi đức Phật nhập Niết-bàn, Tôn giả còn quỳ bên giường. Tuy nhiên, Ấn-Độ là một nước không mấy chú trọng về lịch sử, còn Trung Hoa chúng ta cũng không ít nhà phiên dịch phóng đại và tưởng tượng huyễn hoặc. Những sự tích lặt vặt về cuộc đời đức Thế Tôn và các vị Thánh đệ tử được ghi chép trong kinh điển, thật cũng có ít nhiều cắt xén. Căn cứ theo ký sử có thể khảo cứu qua kinh điển, thì Tỳ-kheo ni Gia-du-đà-la, mẫu thân của La-hầu-La nhập diệt vào năm bảy mươi tám tuổi, và La-hầu-la nhập diệt được kể là sớm hơn. Vào một buổi chiều, mẹ của La -hầu-la đã suy tư đến rất nhiều sự việc. Bà nghĩ Kiều-đàm-di, Liên Hoa Sắc đều đã nhập Niết-bàn, La-hầu-la cũng nhập Niết-bàn. Ta sanh đồng một năm với đức Phật, năm nay ta đã bảy mươi tám tuổi, nghe nói đức Phật sẽ nhập Niết bàn vào năm tám mươi tuổi. Nghĩ đến chuyện ta nhập diệt đồng một lúc với Ngài, tuy hiện tại đối với đức Phật chỉ có pháp tình mà không có tình riêng gì khác, nhưng chuyện ấy là một điều bất kính, chi bằng ta nhập diệt sớm là tốt hơn. Gia-du-đà-la được đức Phật hứa khả, hướng về Phật đảnh lễ cảm tạ xong, bèn hiện thần thông bay lên hư không mà đi. Và đêm đó bà ở trong phòng nhập định Niết-bàn. Căn cứ vào ký sự nhập diệt của Gia-du-đà-la thì La-hầu-la đã nhập diệt trước cả bà và đức Phật. Và theo đó, tính tuổi của Tôn giả không quá sáu mươi. Đại khái Tôn giả chỉ sống trên năm mươi năm là cùng. Đương nhiên, đối với một vị thánh thì xem cái chết, dù sớm hay muộn cũng là chuyện thường. Bỏ sắc thân hư huyễn giả dối này, đem sanh mạng an trụ trong lý thể pháp tánh, chuyện ấy không có gì phải buồn, trái lại đó là một sự hạnh phúc. La-hầu-la vào năm hai mươi tuổi đã khai ngộ chứng quả, cái mục đích tối hậu của đời người đã đạt được thì khi nhập diệt nhất định là an nhiên vi tiếu mà ra đi. La-hầu-la zh羅 睺 羅; si, pi rāhula hán dịch là Phú Chướng, nghĩa là "sự chướng ngại", một trong thập đại đệ tử của Phật. Ông cũng là người con duy nhất của Phật tổ Tất-đạt-đa Cồ-đàm trước khi Phật xuất gia. Mẹ của La-hầu-la là hoàng hậu Gia-du-đa-la si yaśodharā. La-hầu-la được sinh ra năm 608 TCN, khi thái tử Tất-đạt-đa lúc ấy đã 29 tuổi, quyết định rời bỏ gia đình và đi tìm chân lý đích thực. Nhiều người cho rằng đó là hành vi "vô trách nhiệm" đối với một người cha. Tuy nhiên sau này có thể thấy chính Phật là người đích thân dạy dỗ con trai mình trên con đường đạt đạo. Nhờ vậy La-hầu-la đã sớm giác ngộ khi mới ngoài 20 tuổi [1]. La-hầu-la được tôn giả Xá-lợi-phất s śāriputra đưa vào Tăng-già từ lúc bảy tuổi và mất trước Phật, có lẽ khi chưa đến 50 tuổi[2][3] khoảng năm 560 TCN. Thế Tôn đã xuất hiện ở đời như một nhà giáo dục mang nặng sắc thái đậm chất con người qua nhiều câu chuyện ngụ ngôn, thí dụ nhằm khai mở trí tuệ tự tâm mà chuyển hóa nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. La Hầu La được xuất gia học đạo lúc 7 tuổi, do đó ý nghĩ, lời nói, hành động còn thô tháo. Phật bảo La Hầu La rằng “Con hãy về ở tịnh xá Hiền Độ, giữ miệng nhiếp ý, siêng tu giới hạnh”. La Hầu La vâng theo lời Phật về ở tịnh xá Hiền Độ 90 ngày, sám hối ăn năn hành trì ngày đêm không dừng nghỉ. Đức Phật đến thăm và bảo La Hầu La rằng Con hãy bưng chậu nước sạch đến đây để rửa chân cho ta. La Hầu La vâng lời rửa chân cho Phật. Khi rửa chân xong, Phật hỏi La Hầu La Con có thấy nước rửa chân trong chậu kia không? Kính bạch Thế Tôn, con đã thấy nước ấy đã dơ bẩn rồi! Vậy nước ấy có thể dùng để ăn uống, súc miệng hay rửa mặt được không? Kính bạch Thế Tôn, nước ấy không thể dùng xài bình thường được vì đã nhiễm bẩn nhơ đục. Phật dạy tiếp Ngươi là con ta, cháu nội vua Tịnh Phạn, nay đã xuất gia học đạo giác ngộ giải thoát bỏ sự vui sướng tạm bợ ở đời, làm Sa môn Thích tử nếu không siêng năng tinh tấn, giữ thân miệng ý trong sạch thì phải bị phiền não tham, sân, si làm vẫn đục tâm ý, cũng như nước dơ kia không thể dùng được! Vườn tượng minh họa cảnh Phật dạy La Hầu La Nói xong Phật dạy tiếp Con hãy đổ chậu nước dơ kia đi! La Hầu La liền vâng lời làm theo. Phật nói Chậu kia nay đã không còn nước dơ bẩn nữa, vậy có thể dùng để đựng đồ ăn uống được không? Kính bạch Thế Tôn, không thể dùng được vì đã nhiễm bẫn. Phật dạy La Hầu La Con cũng như vậy, tuy làm Sa môn mà không giữ gìn thân miệng ý trong sạch, giống như cái chậu dơ kia, không thể đựng đồ ăn uống được. Nói xong, Phật lấy chân đạp mạnh cái chậu khiến nó chạy lăn tròn, nghiêng ngã qua lại vài lần rồi mới dừng lại. Phật bảo La Hầu La Con bây giờ có còn tiếc cái chậu này không? Kính bạch Thế Tôn, cái chậu rửa chân kia là vật không còn giá trị nữa. Trong thân tâm con, tuy có tiếc rẻ đôi chút nhưng nó không còn làm cho con quyến luyến nữa. Phật bảo La Hầu La Con cũng như vậy, tuy làm Sa môn nhưng không nhất tâm tu hành để thân miệng ý làm não loạn khiến nhiều người buồn phiền, khi chết đọa ba đường dữ, các bậc Hiền thánh không ai thương tiếc giống như cái chậu kia. La Hầu La khi nghe lời Phật dạy, lấy làm hổ thẹn và ăn năn sám hối những lỗi lầm đã phạm phải. Đây là câu chuyện mang đậm chất triết học Phật giáo trong nền văn hóa giáo dục Phật giáo Ấn Độ, thể hiện nhân cách đạo đức sống của một người tu hành vì lợi ích tha nhân. Trong cuộc sống, người thầy giỏi là người khéo léo chỉ dạy tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết của mọi người. Đức Phật đã dùng phương tiện thiện xảo bằng cách hỏi đáp để cho La Hầu La phải dùng trí tuệ để soi sáng mới nhận ra bí quyết tu hành. Thế Tôn, trong phương pháp giáo dục của Ngài đối với các đệ tử theo nguyên tắc “khế cơ”, “khế lý”, “khế thời”, vừa “khích lệ”… lại vừa vận dụng các thí dụ với các hình ảnh cụ thể, quen thuộc trong công việc thường ngày để hướng dẫn chỉ dạy cho người nghe thấy được tác hại của nó mà quyết tâm dứt trừ. Hình ảnh nước dơ trong chậu là ẩn dụ cho phiền não tham sân si của mỗi người, nhằm giúp ta quán xét lại chính mình, bởi lỗi lầm phát sinh là do không chánh niệm tỉnh giác trong từng phút giây. Tu là sửa, là gội rửa thân tâm dính mắc vào mọi hiện tượng sự vật rồi sinh ra chấp trước mà thấy có ta người chúng sinh, nên chịu luân hồi sống chết trong vô số kiếp mà không có ngày ra khỏi. Chúng ta thật diễm phúc thay mới được Thế Tôn sử dụng những phương pháp giáo dục rất thực tế, rõ ràng minh bạch, dễ hiểu nhằm thức tỉnh tâm loạn động mà quay lại sống với tâm Phật sáng suốt ngay nơi thân này. Khi các đệ tử của Ngài bị ràng buộc bởi bóng tối vô minh thì Phật dùng ánh sáng trí tuệ để chuyển hóa, khi khổ đau thì dùng hạnh phúc để xóa tan bao phiền muộn. Qua câu chuyện trên, Thế Tôn đã chỉ cho chúng ta một phương pháp giáo dục rất khoa học và nhân bản nhằm đánh thức tiềm năng của mỗi người mà biết cách làm chủ bản thân qua thân, miệng, ý. Thế Tôn đã xuất hiện ở đời như một nhà giáo dục mang nặng sắc thái đậm chất con người qua nhiều câu chuyện ngụ ngôn, thí dụ nhằm khai mở trí tuệ tự tâm mà chuyển hóa nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. Thích Đạt Ma Phổ Giác Cái chết không đơn giản là lìa bỏ sự sống như lâu nay bạn vẫn nghĩ đâu, mà chết là một tiến trình duyên sinh phức tạp. “Con người đối mặt với hai thứ chết Chết phi thời và chết do chấm sứt thọ mạng. Chết phi thời có thể tránh nhờ những phương pháp để kéo dài thọ mạng. Tuy nhiên, khi nguyên nhân cái chết là thọ mạng tận, thì bạn như một cây đèn đã hết dầu. Không thể nào tránh cái chết bằng cách lừa bịp nó, bạn phải sẵn sàng ra đi.”Vấn đề là bạn sẽ đi đâu? Tử thư Tây Tạng và Tạng Thư Sống Chết cho ta thấy những kinh nghiệm và giáo lý vô cùng kỳ lạ về cái chết, linh hồn và tái sanh. Quá trình chết diễn ra như thế nào, linh hồn sẽ đi về đâu, sẽ tái sanh như thế nào, giải thoát hay lại trầm luân trong sáu nẻo luân hồi?! Sáu nẻo luân hồi. Nhân quả luân hồi. Địa Ngục là gì. Quỷ thần là gì. Thiên Ma là loại ma gì. 10 chuyện Tâm linh có thật. Tam giới là gì. Thực ra hầu hết chúng ta đều chưa biết gì về cái chết. Người đời thấy tắt hơi cho là đã chết, nhưng không, tắt hơi chỉ là bước khởi đầu của tiến trình chết. Đây là quá trình xảy ra sau khi một người đã tắt hơi. Tiến trình này được chia làm hai giai đoạn Sự tan rã bên ngoài của Tứ đại và Sự tan rã bên trong của nội tâm. Các dấu hiệu của cái Chết 1. Sự tan rã bên ngoài của Tứ đại Sự tan rã của tứ đại là một điều vô cùng kinh khủng, theo “Tạng thư sống chết” thì Sự tan rã bên ngoài xảy ra khi các giác quan và tứ đại phân tán. Chúng ta thực sự kinh qua điều này như thế nào khi chết ? iều trước tiên chúng ta có thể ý thức là các giác quan ta ngưng hoạt động như thế nào. Nếu người đứng xung quanh giường ta đang nói chuyện, sẽ đến một lúc ta không thể nghe ra một lời nào. ây là dấu hiệu nhĩ thức đã ngưng hoạt động. Ta nhìn một vật trước mặt, mà chỉ có thể thấy hình dạng lờ mờ, không rõ chi tiết. ấy là dấu hiệu nhãn thức đã suy. Và việc cũng xảy ra tương tự đối với các khả năng ngửi, nếm, sờ. Khi các giác quan không còn được cảm nhận một cách trọn vẹn, đó là giai đoạn đầu tiên của tiến trình tan rã. Bốn giai đoạn tan rã kế tiếp đi kèm với sự tan rã của bốn đại Sự tan rã của ịa đại Thân xác chúng ta khởi sự mất hết sức mạnh. Chúng ta kiệt quệ, không còn chút năng lực nào. Không thể đứng lên, ngồi thẳng, hay cầm bất cứ vật gì. Ta không còn giữ được cái đầu của ta. Ta cảm thấy như mình đang té xuống, đang nhận chìm xuống đất, hay đang bị một sức nặng ghê gớm nghiền nát. Kinh điển mô tả như là trái núi khổng lồ đang ép xuống người ta, và ta đang bị nó nghiền nát. Ta cảm thấy nặng nề, khó chịu trong bất cứ tư thế nào. Ta có thể yêu cầu đỡ ta lên, chồng gối cao lên, lấy hết mền trên người ra. Màu da của ta phai nhạt và một màu tái xanh xuất hiện. Má ta hóp lại, và những vết đen xuất hiện trên răng. Càng lúc ta càng thấy khó mở mắt nhắm mắt. Khi sắc uẩn phân tán, ta trở nên yếu đuối mong manh. Tâm ta giao động, nói nhảm, nhưng rồi lại chìm vào hôn trầm. ấy là những dấu hiệu địa đại đang rút vào thủy đại. iều này có nghĩa rằng gió liên hệ đến địa đại đang trở thành ít có khả năng cung cấp một nền tảng cho ý thức và khả năng của thủy đại bây giờ rõ rệt hơn. Bởi thế, “dấu hiệu bí mật” xuất hiện trong tâm lúc đó là thấy một hình ảnh chập chờn. Sự tan rã của Thủy đại Chúng ta khởi sự mất khả năng kiểm soát chất lỏng trong thân. Mũi ta bắt đầu chảy nước, và miệng rỏ nước miếng. Có thể có nước mắt chảy ra, và ta cũng có thể mất hết sự tự chế. Ta không thể nào di động cái lưỡi. Mắt ta khởi sự cảm thấy khô cạn trong lỗ mắt. Môi ta thụt vào, không còn chút sắc máu; miệng và cổ họng bế tắc. Những lỗ mủi ta lún vào, và ta cảm thấy rất khát nước. Ta run rẩy, co giật. Mùi tử khí bắt đầu phảng phất xung quanh. Khi thọ uẩn phân tán, thì những cảm giác của thân yếu dần ; khi khổ khi vui ; lúc nóng lúc lạnh. Tâm ta đâm ra mờ mịt, bất mãn, cáu tức, và nóng nảy. Một vài kinh điển nói chúng ta cảm thấy như mình bị dìm trong đại dương hay cuốn trôi trong dòng nước lớn. Thủy đại đang tan rã vào hỏa đại, bây giờ hỏa đại thắng lướt và có khả năng nâng đỡ tâm thức. Bởi thế, “dấu hiệu bí mật” là người sắp chết thấy một đám mờ như khói cuộn. Sự tan rã của Hỏa đại Miệng và mũi chúng ta hoàn toàn khô cạn. Tất cả hơi ấm trong cơ thể bắt đầu mất dần, từ chân tay cho đến tim. Có thể có một luồng khói xuất từ đỉnh đầu. Hơi thở lạnh giá khi qua miệng và mũi. Ta không còn có thể uống hay tiêu hóa bất cứ thứ gì. Tưởng uẩn đang phân tán, và tâm ta lơ lửng giữa sáng suốt và mê mờ. Ta không thể nhớ được tên bà con, bè bạn, hay nhận ra họ là ai. Càng lúc ta càng khó nhận ra cái gì bên ngoài, vì âm thanh và cái thấy lẫn lộn. Kalu Rinpoche viết “ối với người sắp chết, kinh nghiệm bên trong là như thể bị nuốt chửng trong một ngọn lửa lớn, ở giữa một cái hỏa lò hừng hực, hay toàn thế giới đang bị thiêu đốt”. Hỏa đại đang tan vào phong đại, nên bây giờ nó không có thể làm nền tảng cho tâm thức được nữa, mà khả năng của phong đại thì rõ rệt hơn. Bởi thế dấu hiệu bí mật là những đóm sáng chập chờn trên một ngọn lửa mở ra, như những con đom đóm. Sự tan rã của Phong đại Càng lúc càng khó thở. Không khí dường như thoát ra ngõ yết hầu chúng ta. Chúng ta khởi sự thở hào hển. Nhưng hơi thở vào càng lúc càng ngắn và khó nhọc, hơi thở ra càng lúc càng dài. Mắt chúng ta trợn trừng lên, và chúng ta hoàn toàn bất động. Khi hành uẩn phân tán, tâm trở nên hoang dã, không biết gì về thế giới bên ngoài. Mọi sự trở nên một khối mờ mịt. Cảm giác liên lạc cuối cùng của chúng ta với hoàn cảnh vật lý đang tan mất. Chúng ta khởi sự có những ảo giác và thấy các cảnh tượng Nếu trong đời ta đã tạo nhiều nghiệp ác, ta có thể trông thấy những hình thù ghê rợn. Những ám ảnh và những giây phút kinh hãi của đời ta bây giờ quay lại, và có khi chúng ta cố la lên vì kinh hoàng. Nếu chúng ta đã sống đời có lòng tử tế xót thương, thì chúng ta có thể kinh nghiệm những cảnh thiên đường đầy hỷ lạc, và “gặp” những bạn bè thân yêu, hoặc những bậc giác ngộ. Với những người đã sống đời lương thiện, thì khi chết có sự an bình thay vì hãi sợ. * Kallu Rinpoche viết “Kinh nghiệm nội tâm đối với người sắp chết là một ngọn cuồng phong quét sạch toàn thế giới, kể cả chính mình, một trận gió xoáy cuốn hút toàn vũ trụ”. iều đang xảy đến là phong đại đang tan vào tâm thức. Những ngọn gió đều tập hợp lại trong “gió nâng đỡ đời sống” nằm ở tim. Bởi thế, “dấu hiệu bí mật” là người chết thấy một ngọn đuốc hay đèn đỏ rực. Hơi thở vào càng nông cạn, hơi thở ra càng sâu. Ở thời điểm này, máu tụ lại đi vào trong “kinh mạch của sự sống” nằm chính giữa tim ta. Ba giọt máu lần lượt tụ lại, gây nên ba hơi thở ra cuối cùng. Rồi thình lình, hơi thở chúng ta chấm dứt. Chỉ một chút hơi ấm còn ở lại nơi tim ta. Mọi dấu hiệu của sự sống không còn, và đây là điểm mà sự xét nghiệm lâm sàng cho là “chết”. Nhưng những bậc thầy Tây Tạng nói đến một tiến trình bên trong vẫn còn tiếp diễn. Thời gian giữa sự ngưng thở và thời gian chấm dứt “hơi thở bên trong” được cho là “khoảng chừng bữa ăn”, tức khoảng 20 phút. Nhưng không có gì chắc chắn, và toàn thể tiến trình này có thể xảy ra rất nhanh… Các dấu hiệu của cái Chết 2. Sự tan rã bên trong Trong quá trình tan rã nội tâm, ở đấy những tâm trạng và cảm xúc từ thô đến tế tan rã, có bốn tầng lớp tâm thức vi tế được gặp gỡ. Ở dây tiến trình chết phản ảnh ngược lại với tiến trình đầu thai. Khi tinh huyết cha mẹ gặp gỡ, tâm thức ta do nghiệp thúc đẩy, bị kéo vào. Trong thời kỳ phát triển bào thai. Tinh chất của cha Một hạt nhân “trắng và phúc lạc” an trú trong luân xa ở đỉnh đầu, trên cùng của huyệt đạo trung ương. Tinh chất của người mẹ Một hạt nhân “đỏ và nóng”, an trú trong luân năm dưới rốn chừng bốn ngón tay. Chính từ nơi hai tinh chất này mà những giai đoạn kế tiếp của sự tan rã xảy ra. Với sự biến mất của ngọn gió giữ nó lại đấy, tinh chất màu trắng đi xuống huyệt đạo về phía trái tim. Bên ngoài có tướng màu “trắng” hiện ra như “một bầu trời trong sáng dưới ánh trăng”. Bên trong, ý thức chúng ta trở nên vô cùng sáng suốt. Tất cả những tâm trạng do sân giận, gồm 33 thứ, đi đến chấm dứt. Giai đoạn này gọi là “Xuất hiện”. Rồi tinh chất của mẹ bắt đầu đi lên qua huyệt đạo trung ương, khi ngọn gió giữ nó nguyên chỗ đã biến mất. * Tướng bên ngoài là một màu “đỏ” như mặt trời chiếu trên nền trời trong. Bên trong, có một cảm giác phúc lạc phát sinh. Những tâm trạng do tham dục, gồm 40 thứ tất cả, ngưng hoạt động. Giai đoạn này gọi là “Tăng trưởng” . Khi hai tinh chất đỏ trắng gặp gỡ ở tim, tâm thức được kèm theo trong ấy. Tulku Urgyen Rinpoche, một bậc thầy lỗi lạc ở Nepal nói “Kinh nghiệm ấy giống như bầu trời và trái đất gặp nhau” . Bên ngoài, chúng ta thấy xuất hiện một màu “đen” giống như một bầu trời trống rỗng chìm trong màn đêm dày đặc. Tướng bên trong là một trạng thái tâm thức không có tư tưởng. Bảy trạng thái tâm do ngu si và vọng tưởng đi đến chấm dứt. iều này được gọi là “Thành tựu”. Khi chúng ta hơi tỉnh giác trở lại, Ánh sáng Căn bản lóe lên như một bầu trời vô nhiễm không mây mù. ôi khi đấy gọi là “tâm với ánh sáng trong của sự chết”. ức Dalai Lama nói “Tâm thức này là tâm thức sâu xa nhất. Chúng ta gọi nó là Phật tính, suối nguồn thực sự của mọi thức. Dòng tương tục của tâm thức này kéo dài ngay cả đến khi thành Phật quả. Cái chết của “các độc tố” Thế thì cái gì xảy ra khi ta chết ? Nó giống như ta trở về trạng thái nguyên ủy của ta. Mọi sự đều tan rã, khi thân và tâm đã được gỡ rối. Ba độc tham, sân, si cùng chết. Điều này có nghĩa là tất cả những cảm xúc tiêu cực, gốc rễ của sinh tử, thực sự chấm dứt, và khi ấy có một khoảng hở. Tiến trình ấy đưa chúng ta đi đâu? i trở về nền tảng nguyên ủy của tự tánh tâm, trong tất cả vẻ đơn giản tự nhiên và thuần khiết của nó. Bấy giờ mọi thứ che mờ nó đã bị dời bỏ, và bản lai diện mục của chúng ta hiển lộ. Một trạng thái tương tự có thể xảy ra như khi chúng ta thực hành thiền quán và có những kinh nghiệm hỷ lạc, trong sáng, vô tưởng Điều này chứng tỏ tham, sân, si đã tạm thời tan rã. * Khi tham, sân, si chết, thì chúng ta càng trở nên thanh tịnh. Các bậc thầy nói rằng, tất cả chúng sanh, cho đến loài côn trùng nhỏ nhất cũng trải qua tiến trình này. Trong trường hợp chết bất ngờ hay chết vì tai nạn, tiến trình này cũng vẫn xảy ra, nhưng cực kỳ nhanh chóng. Tôi đã thấy rằng cách dễ nhất để hiểu cái gì xảy ra trong tiến trình chết, với sự tan rã bên trong và bên ngoài của nó. Là xem nó như một phát triển tuần tự và sự sinh khởi của những tầng lớp tâm thức càng lúc càng vi tế dần. Mỗi tầng lớp nổi lên trên sự tan rã liên tục của hợp thể thân tâm. Khi tiến trình tuần tự di chuyển về hướng ở đấy có sự hiển lộ cái tâm vi tế hơn tất cả Ánh sáng căn bản hay iểm Linh Quang. Chết là cơ hội giải thoát ngàn năm có một Khi chết tất cả những hợp thể của thân tâm ta đều bị tước bỏ, phân tán. Khi thân xác chết, giác quan và đại chủng vi tế tan rã. Tiếp theo đó là cái chết của các khía cạnh tâm thông thường, với những cảm xúc tiêu cực của nó như tham, sân, si. Cuối cùng không còn gì để che mờ bản chất thực của ta, vì mọi thế sự vây phủ cái tâm giác ngộ đã rơi rụng. Và khi ấy, cái được hiển bày là nền tảng tối sơ của bản chất tuyệt đối chúng ta, như một bầu trời trong sáng không mây. iều này gọi là sự xuất hiện Ánh sáng Căn bản, hay “iểm Linh Quang”. Khi chính tâm thức cũng tan vào trong không gian bao la của chân lý. Tử Thư Tây Tạng nói về giây phút này như sau Bản chất vạn pháp là khoáng đạt, trống rỗng, trơ trụi như bầu trời. Sự trống rỗng sáng chói, không có tâm điểm hay chu vi Tính giác của tâm, hay Rigpa, xuất hiện. Padmasambhava mô tả ánh sáng ấy như sau * iểm Linh quang tự sinh ấy, từ khởi thủy chưa từng sinh. Là con đẻ của Rigpa, tự nó không cha mẹ – lạ lùng thay ! Trí tuệ tự sinh ấy chưa từng được ai tạo ra – lạ lùng thay ! Nó chưa từng sinh, và không gì trong nó để gây ra sự chết – lạ lùng thay ! Nó thấy, mà không ai là người thấy nó – lạ lùng thay ! Nó du hành qua sinh tử mà không hại gì – lạ lùng thay ! Nó thấy Phật tính, nhưng cũng không lợi gì – lạ lùng thay ! Nó hiện hữu trong mọi người, mọi nơi, mà không ai nhận ra nó – lạ lùng thay! Người ta lại mong đạt một kết quả nào khác bên ngoài – lạ lùng thay ! Mặc dù nó là vật của bạn, bạn lại đi tìm nó ở chỗ khác – lạ lùng thay ! Sự xuất hiện Ánh sáng Căn bản hay iểm linh quang vào lúc chết là cơ hội ngàn năm một thuở để giải thoát. Nhưng điều cốt yếu là phải nhận ra cơ hội ấy. Một vài nhà văn và nhà nghiên cứu tân thời về cái chết đã coi thường sự sâu sắc của giây phút ấy. Vì họ đã đọc và giải thích Tử Thư Tây Tạng mà không được sự chỉ giáo khẩu truyền. Không tu tập để hiểu ý nghĩa thiêng liêng của nó, nên họ đã đơn giản hóa quá mức và nhảy bổ đến những kết luận vội vàng. * Họ cho rằng sự xuất hiện Ánh sáng Căn bản chính là giác ngộ. Tất cả chúng ta đều ưa đồng hóa cái chết với thiên đường hay giác ngộ. Nhưng điều quan trọng hơn sự mong ước ấy là phải biết rằng chỉ khi chúng ta đã thực sự được khai ngộ bản tâm, hay Tính giác Rigpa; Chỉ khi chúng ta đã an trú nó nhờ thiền định và thể nhập nó trong đời sống hàng ngày của ta, thì cái thời điểm chết mới thực sự đem lại một cơ hội để giải thoát. Mặc dù Ánh sáng Căn bản hiện ra cho tất cả chúng ta một cách tự nhiên. Song phần đông chúng ta hoàn toàn không sẵn sàng để đón nhận tính bao la thuần túy, chiều sâu rộng vi tế, tính giản dị sơ nguyên của nó. a số chúng ta không có cách gì để nhận ra nó. Vì trong đời chúng ta chưa từng quen thuộc với những phương thức nhận ra nó. Khi ấy, điều xảy đến là, theo bản năng, chúng ta có khuynh hướng phản ứng lại. Do những nỗi sợ hãi quá khứ của ta, do tập quán, hoàn cảnh, tất cả những phản xạ cũ của ta. Mặc dù những cảm xúc tiêu cực có chết đi thì Ánh sáng Căn bản mới xuất hiện. Song tập quán của nhiều đời vẫn còn, ẩn nấp trong hậu trường của tâm phàm tình chúng ta. Mặc dù mọi rối ren mờ mịt của chúng ta chết đi lúc thân ta chết. Song thay vì quy phục, đón nhận ánh sáng, thì vì sợ hãi và vô minh, chúng ta lùi lại. Và theo bản năng bám lấy những gì ta đã từng bám giữ. * ấy chính là nguyên nhân ngăn cản chúng ta lợi dụng thời điểm mãnh liệt này làm cơ hội giải thoát. Padmasambhava nói “Tất cả hữu tình đã sống và chết vô số lần. Chúng đã nhiều lần kinh nghiệm Ánh sáng khôn tả này, nhưng vì bóng tối vô minh làm mờ mịt, chúng vẫn lang thang bất tận trong sinh tử” . Ánh sáng Căn bản xuất hiện, đối với một hành giả, nó kéo dài bao lâu vị ấy an trú không tán loạn vào tự tánh tâm. Nhưng đối với phần đông, nó kéo dài không lâu hơn một búng tay, và với vài người, nó kéo dài “khoảng chừng một bữa ăn”. Phần đông người tuyệt nhiên không nhận ra Ánh sáng Căn bản, thay vì thế, họ rơi vào một trạng thái ngất xỉu có thể kéo dài ba ngày rưỡi. Sau đó thần thức mới thực sự rời khỏi thể xác. Đến đây mới được xác định chính xác là một người đã chết. Chết là gì – Theo Tạng Thư Sống Chết Tuệ Tâm 2020. La Hầu La được xuất gia học đạo lúc 7 tuổi, do đó ý nghĩ, lời nói, hành động còn thô tháo. Phật bảo La Hầu La rằng “Con hãy về ở tịnh xá Hiền Độ, giữ miệng nhiếp ý, siêng tu giới hạnh”. La Hầu La vâng theo lời Phật về ở tịnh xá Hiền Độ 90 ngày, sám hối ăn năn hành trì ngày đêm không dừng nghỉ. Đức Phật đến thăm và bảo La Hầu La rằng Con hãy bưng chậu nước sạch đến đây để rửa chân cho ta. La Hầu La vâng lời rửa chân cho Phật. Khi rửa chân xong, Phật hỏi La Hầu La Con có thấy nước rửa chân trong chậu kia không? Kính bạch Thế Tôn, con đã thấy nước ấy đã dơ bẩn rồi! Vậy nước ấy có thể dùng để ăn uống, súc miệng hay rửa mặt được không? Đức Phật hỏi tiếpKính bạch Thế Tôn, nước ấy không thể dùng xài bình thường được vì đã nhiễm bẩn nhơ đục. Phật dạy tiếp Ngươi là con ta, cháu nội vua Tịnh Phạn, nay đã xuất gia học đạo giác ngộ giải thoát bỏ sự vui sướng tạm bợ ở đời, làm Sa môn Thích tử nếu không siêng năng tinh tấn, giữ thân miệng ý trong sạch thì phải bị phiền não tham, sân, si làm vẫn đục tâm ý, cũng như nước dơ kia không thể dùng được! Nói xong Phật dạy tiếp Con hãy đổ chậu nước dơ kia đi! La Hầu La liền vâng lời làm nói Chậu kia nay đã không còn nước dơ bẩn nữa, vậy có thể dùng để đựng đồ ăn uống được không? Kính bạch Thế Tôn, không thể dùng được vì đã nhiễm bẩn. Phật dạy La Hầu La Con cũng như vậy, tuy làm Sa môn mà không giữ gìn thân miệng ý trong sạch, giống như cái chậu dơ kia, không thể đựng đồ ăn uống được. Nói xong, Phật lấy chân đạp mạnh cái chậu khiến nó chạy lăn tròn, nghiêng ngã qua lại vài lần rồi mới dừng lại. Phật bảo La Hầu LaCon bây giờ có còn tiếc cái chậu này không? Kính bạch Thế Tôn, cái chậu rửa chân kia là vật không còn giá trị nữa. Trong thân tâm con, tuy có tiếc rẻ đôi chút nhưng nó không còn làm cho con quyến luyến nữa. Phật bảo La Hầu La Con cũng như vậy, tuy làm Sa môn nhưng không nhất tâm tu hành để thân miệng ý làm não loạn khiến nhiều người buồn phiền, khi chết đọa ba đường dữ, các bậc Hiền thánh không ai thương tiếc giống như cái chậu kia. La Hầu La khi nghe lời Phật dạy, lấy làm hổ thẹn và ăn năn sám hối những lỗi lầm đã phạm phải. Đây là câu chuyện mang đậm chất triết học Phật giáo trong nền văn hóa giáo dục Phật giáo Ấn Độ, thể hiện nhân cách đạo đức sống của một người tu hành vì lợi ích tha nhân. Trong cuộc sống, người thầy giỏi là người khéo léo chỉ dạy tùy theo căn cơ trình độ hiểu biết của mọi người. Đức Phật đã dùng phương tiện thiện xảo bằng cách hỏi đáp để cho La Hầu La phải dùng trí tuệ để soi sáng mới nhận ra bí quyết tu hành. Thế Tôn, trong phương pháp giáo dục của Ngài đối với các đệ tử theo nguyên tắc “khế cơ”, “khế lý”, “khế thời”, vừa “khích lệ”… lại vừa vận dụng các thí dụ với các hình ảnh cụ thể, quen thuộc trong công việc thường ngày để hướng dẫn chỉ dạy cho người nghe thấy được tác hại của nó mà quyết tâm dứt trừ. Hình ảnh nước dơ trong chậu là ẩn dụ cho phiền não tham sân si của mỗi người, nhằm giúp ta quán xét lại chính mình, bởi lỗi lầm phát sinh là do không chánh niệm tỉnh giác trong từng phút giây. Tu là sửa, là gội rửa thân tâm dính mắc vào mọi hiện tượng sự vật rồi sinh ra chấp trước mà thấy có ta người chúng sinh, nên chịu luân hồi sống chết trong vô số kiếp mà không có ngày ra khỏi. Chúng ta thật diễm phúc thay mới được Thế Tôn sử dụng những phương pháp giáo dục rất thực tế, rõ ràng minh bạch, dễ hiểu nhằm thức tỉnh tâm loạn động mà quay lại sống với tâm Phật sáng suốt ngay nơi thân này. Khi các đệ tử của Ngài bị ràng buộc bởi bóng tối vô minh thì Phật dùng ánh sáng trí tuệ để chuyển hóa, khi khổ đau thì dùng hạnh phúc để xóa tan bao phiền muộn. Qua câu chuyện trên, Thế Tôn đã chỉ cho chúng ta một phương pháp giáo dục rất khoa học và nhân bản nhằm đánh thức tiềm năng của mỗi người mà biết cách làm chủ bản thân qua thân, miệng, ý. Thế Tôn đã xuất hiện ở đời như một nhà giáo dục mang nặng sắc thái đậm chất con người qua nhiều câu chuyện ngụ ngôn, thí dụ nhằm khai mở trí tuệ tự tâm mà chuyển hóa nỗi khổ niềm đau thành an vui hạnh phúc ngay tại đây và bây giờ. La Hầu La là con trai duy nhất của thái tử Tất Đạt Đa - tên gọi của Đức Phật trước khi xuất gia, khi ngài còn là thái tử của một đất nước. Từ nhỏ La Hầu La đã sống xa tình yêu thương của cha, tuy nhiên cuộc sống của Ngài cũng rất sung túc, giàu sang bên cạnh ông ngoại và mẫu thân. Vậy điều gì đã giúp La Hầu La đi theo con đường tu đạo, trở thành vị tôn giả trẻ tuổi nhất lúc bấy giờ? Hãy cùng Tự Thanh Quán đi tìm hiểu ngay sau đây nhé! Giới thiệu về phật La Hầu LaSự ra đời của La Hầu LaLa Hầu La được biết đến là người con trai ruột duy nhất của Đức Phật trước khi Ngài xuất gia. Chuyện kể rằng, từ xa xưa Đức Phật là thái tử, người được chỉ định sẽ kế thừa vương vị của đất nước. Tuy nhiên, Ngài lại có mong muốn được xuất gia, phù độ chúng sinh đem lại cuộc sống no đủ cho nhân loại. Vua cha lúc bấy giờ không chấp thuận, với mong muốn giữ chân con trai, nhà vua hạ lệnh chỉ cho phép thái tử xuất gia khi chàng hạ sinh được con trai đích tôn. Sau đó thái tử vì chiều lòng cũng như hoàn thành ước nguyện của cha đã cưới công chúa Da - du - đà - la và sinh ra một người con trai đặt tên là La Hầu La. Thái tử rất vui vẻ với sự ra đời của đứa con này vì cuối cùng Ngài cũng có thể lên đường đi theo lý tưởng cao cả của bản cuối trước khi ra đi, thái tử nhìn vợ và con trai lần cuối, khi đó La Hầu La mới được 7 ngày tuổi và leo lên lưng mã đi khỏi thành. La Hầu La là ai?Những ngày tháng sau đó, La Hầu La được ông ngoại và mẫu thân hết mực yêu thương, được sống một cuộc sống giàu có, hạnh phúc và là chỗ dựa vững chắc của cả quốc gia dân tộc. Xem ngay Toàn bộ về sự tích Địa Tạng Vương Bồ Tát bạn cần Hầu La đi theo con đường Phật giáoTuy nhiên, cậu bé năm nào vẫn canh cánh nỗi buồn chưa gặp được cha. Mãi đến năm 10 tuổi, La Hầu La mới gặp được lại Đức Phật tuy nhiên lúc này cha đã là vị Thánh cao cao tại thượng không còn được quá gần gũi, thân mật. Đức Phật cũng nhìn con đầy chua xót, canh cánh nỗi lòng vì dân vì nước bỏ qua việc nhà. Sau đó, Ngài đi theo con đường của cha để tu thành chín quả và đã trở thành vị tu chứng trẻ nhất khi mới 20 mí ý nghĩa tên La Hầu LaTheo truyền thuyết kể lại rằng, La Hầu La chính là cái tên Đức Phật tự mình đặt cho con trai Người với ý nghĩa “ràng buộc.” Đứa con sinh ra vừa là ước nguyện của vua cha, vừa là sự ràng buộc trách nhiệm đối với Thái tử. La Hầu La cũng là sợi dây ràng buộc tình cảm duy nhất của Ngài với trần bụi, với cuộc sống luân hồi tử sinh bình thường. Ý nghĩa tên La Hầu La từ đó được truyền tai nhau ngàn nghĩa tên La Hầu LaTuy theo đuổi con đường vì nhân dân, nhưng tình cảm ruột thịt thiêng liêng vẫn khiến Thái tử không khỏi chua xót, canh cánh nỗi đau khi bế La Hầu La trên tay. La Hầu La cùng mẫu thân đã trải qua quãng thời gian trần thế cho là cô đơn, hi sinh vì thiếu thốn tình cảm của người cha. Tuy nhiên rất nhiều ý kiến cho rằng sự hy sinh đó là có ý nghĩa bởi nó là động lực giúp Ngài tu thành chín quả sau này!Cách Đức Phật nuôi dạy La Hầu La cũng được người đời kính nể và trở thành tấm gương sáng truyền lại muôn đời. Ngài luôn dạy con phải trung thực và từ bi, không hề có sự thiên vị, đi theo con đường Thiền hành để phát triển nội tâm Tuệ giác để khai mở trí tuệ. Từ một cậu bé vương gia nghịch ngợm, thích trêu chọc người khác thuở mới tu hành, sau này La Hầu La đã trở thành vị Phật tuệ trí, bác ái. Xem ngay Địa Tạng Vương Bồ Tát là ai? Bí mật ý nghĩa của tượng?Mẫu tượng La Hầu La đẹp nhất hiện nayTự Thanh Quán là một trong những địa chỉ tâm linh uy tín và được biết đến nhiều tại Hà Nội. Chúng tôi cam kết đem đến những sản phẩm chất lượng nhất với nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, mẫu mã đa dạng, độ tinh xảo cùng độ bền cao theo thời gian. Hãy đến Tự Thanh Quán để đắm mình trong không gian tâm linh với những sản phẩm vô cùng đẹp mắt và tinh xảo nhé!Xem ngay Bỏ túi địa điểm mua tượng phật bà Quan Âm bằng gốm uy tínTrên đây là một số chia sẻ của Tự Thanh Quán về những câu chuyện thú vị xoay quanh phật La Hầu La là ai. Nếu bạn có bất cứ thắc mắc nào về tâm linh, hãy liên hệ với Tự Thanh Quán để nhận được tư vấn sớm nhất nhé! Chúng tôi tự hào là đơn vị uy tín luôn đồng hành cùng bạn!Xem ngay [FULL] 9+ Mẫu tượng phật quan âm đứng đẹp nhất Tự cổ chí kim, con người luôn khao khát và tìm cầu mọi cách để được trường sinh bất tử. Thế nhưng, lưới vô thường sanh, lão, bệnh, tử nào có chừa một ai? Bất tử có chăng là những gì mà con người đã cống hiến hết mình cho cuộc đời, cho nhân sinh bằng những phẩm chất và hành động cao quý để rồi sau khi nhắm mắt xuôi tay được thế gian ca tụng, lưu truyền mãi về sau. Quả thật là chân bất tử của một kiếp người và Tăng đoàn Phật giáo cũng đã có những con người bất tử như thế. Một trong những tấm gương đó chính là tôn giả Rāhula La-hầu-la. Tôn giả Rāhula La-hầu-la, một vị A-la-hán trẻ tuổi nhất trong Thập đại đệ tử Phật. Ngài là người rất tự giác, mặc tịnh và trầm tư. Cuộc đời của tôn giả Rāhula để lại cho chúng ta nhiều bài học về phẩm hạnh cao quý về quá trình trau dồi giới đức và trí tuệ. Mật hạnh của Ngài không những là mẫu người lý tưởng cho Tăng đoàn thời Phật còn tại thế mà cho đến ngày nay, Tăng Ni trẻ trong thời đại công nghệ số nói riêng và những ai quan tâm đến một đời sống phạm hạnh, thanh tịnh nói chung cần lấy đó làm tấm gương để học tập và hành trì. MẬT HẠNH TÔN GIẢ Rāhula La-hầu-la Kinh điển ghi lại rằng bảy vị Phật trong quá khứ đều có con khi còn ở đời sống thế gian như “Đức Phật Tỳ-bà-thi có con tên Phương Ưng. Phật Thi-khí có con tên Vô Lượng. Tỳ-xá-bà có con tên Diệu Giác. Câu-lưu-tôn có con tên Thượng Thắng. Câu-na-hàm có con tên Đạo Sư. Ca-diếp có con tên Tập Quân. Ta nay có con tên là La-hầu-la” [1]. Tôn giả Rāhula sinh ra và lớn lên tại kinh đô Kapilavatthu của tộc Sākya thuộc vương quốc Kosala, trên vùng biên giới Nepal và Bắc Ấn; là cháu nội của của vua Suddhodana Tịnh Phạn dòng dõi Gotama và hoàng hậu Mahāmāyā Ma Da. Tôn giả là đứa con trai duy nhất của thái tử Siddhattha Tất-đạt-đa và công chúa Yasodharā Da-du-đà-la. Ảnh Tôn giả Rāhula sinh ra và lớn lên tại kinh đô Kapilavatthu Ca-tỳ-la-vệ của tộc Sākya Thích-ca thuộc vương quốc Kosala Kiều-tát-la, trên vùng biên giới Nepal và Bắc Ấn; là cháu nội của của vua Suddhodana Tịnh Phạn dòng dõi Gotama và hoàng hậu Mahāmāyā Ma Da. Tôn giả là con trai duy nhất của thái tử Siddhattha Tất-đạt-đa và công chúa Yasodharā Da-du-đà-la. Sử liệu Nam truyền Phật giáo ghi nhận Rāhula xuất gia năm lên 7 tuổi, từ vị Sa di nhỏ tuổi nhất trải qua 13 năm thực tập lời Phật dạy đến năm 20 tuổi cầu thọ Cụ túc giới. Ở lứa tuổi ấy, những phẩm hạnh đáng kính của Tôn giả Rāhula được Đức Phật tán thán “Trong các vị đệ tử Tỳ-kheo của Ta ưa thích học tập, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Rāhula” [2]. Điều này được thể hiện qua hình ảnh Sa-di Rāhula luôn có thói quen dậy sớm vào buổi sáng nhặt lên một nắm cát và tự nhủ “Cầu mong cho tôi có được những lời giáo giới từ Đức Thế Tôn và thầy tế độ của tôi nhiều như những hạt cát trong tay của tôi” [3]. Đây là một trong những mật hạnh cao quý của Tôn giả. Chính khát khao này sẽ xây dựng cho Rāhula thói quen sống xứng đáng với người cha đại trí của mình và được người đời sau tôn kính. Chuyện tiền thân Tipallatthamiga kể về con nai cháu với ba cử chỉ đã học từ những đức tính tốt đẹp, khôn ngoan của loài nai đặc biệt là của nai cậu tiền thân Phật và nai mẹ Upplavannā, cứu sống nó khỏi sự truy sát từ người thợ săn. Con nai cháu đó chính là tiền thân của Tôn giả Rāhula. Đức Thế Tôn một lần nữa khẳng định “Rāhula không phải nay mới ham học, thuở trước cũng đã ham học như vậy” [4]. Với đức tính tốt đẹp như vậy, lại có quan hệ huyết thống đối với Đức Thế Tôn, nếu là những vị còn tâm tánh phàm phu chắc hẳn sẽ thường dựa dẫm, ỷ lại vào Đức Phật, nhưng Rāhula không như vậy. Trong số ba bài kinh tiêu biểu cho việc giáo giới Rāhula, chính Đức Phật đã hai lần đích thân gặp Tôn giả để thăm và giảng dạy. Điều này cho thấy mật hạnh của Rāhula rất đáng ngưỡng mộ, dù tuổi còn rất nhỏ. Rāhula không bao giờ bày tỏ thái độ bất kính đối với Thế Tôn cũng như các vị trưởng lão trong Tăng đoàn. Kinh tạng còn ghi lại câu trả lời của Rāhula với Đức Phật “Thường chung sống người hiền, Con không có khinh miệt Người cầm đuốc loài người Thường được con tôn trọng” [5]. Mật hạnh của Rāhula còn được Đức Thế Tôn ấn chứng trong pháp hội Long Hoa “Hạnh kín của Rāhula chỉ Ta biết mà thôi” [6]. Kinh tạng còn ghi lại câu trả lời của Rāhula với Đức Phật “Thường chung sống người hiền/ Con không có khinh miệt/ Người cầm đuốc loài người/ Thường được con tôn trọng”. Ảnh Tranh Ấn Độ Kinh Ambalathika Rahulovada ghi lại sự kiện Đức Phật đến thăm Rāhula khi Tôn giả đang ở rừng Ambala. Tôn giả sắp đặt chỗ ngồi và nước rửa chân để hầu cận Đức Thế Tôn. Sau khi rửa chân, Đức Phật đã để lại chút ít nước trong chậu và dụ cho “Sa môn hạnh của người nào biết nói láo, không có tàm quý” [7]. Kế đó, Ngài đổ nước đi, lật úp chậu rồi lại lật ngửa chậu lên. Hình ảnh ấy ví dụ cho Sa-môn hạnh trống rỗng của những người biết nói láo, không có tàm quý vậy. Sử dụng hình ảnh chậu nước để giáo giới là một phương pháp dạy dỗ rất khéo léo của Đức Thế Tôn đối với lứa tuổi như Rāhula lúc bấy giờ. Tính chân thật là điều đầu tiên Đức Phật muốn dạy Rāhula trong những ngày chập chững bước vào sinh hoạt Tăng đoàn. Bởi lẽ, người thế gian còn lấy sự thật thà, ngay thẳng, không lừa gạt mình, không dối gạt người làm quy chuẩn cho đạo đức ứng xử để hình thành nên nhân cách con người. Người thực hành lời Phật dạy càng phải lấy tính chân thật làm nền tảng căn bản cho tự thân. Chính đức tính ấy sẽ làm cho đời sống phạm hạnh được thăng hoa. Đức Phật tiếp tục sử dụng hình ảnh “Một con voi của vua, có ngà dài như một cán cày, to lớn, khéo luyện, thường có dùng hai chân trước, dùng hai chân sau, dùng phần thân trước, dùng phần thân sau, dùng đầu, dùng tai, dùng ngà, dùng đuôi nhưng bảo vệ cái ngà… Cũng vậy, này Rāhula, đối với ai biết mà nói láo, không có tàm quý, thời Ta nói rằng người ấy không có việc ác gì mà không làm” [8]. Xuất thân từ hoàng cung xứ Ấn Độ xưa, hình ảnh con voi không còn gì xa lạ đối với Rāhula. Qua hình ảnh voi, Đức Thế Tôn muốn răn dạy Tôn giả rằng người thế gian cũng không được nói dối gạt người, còn với người đã từ bỏ gia đình thì việc chơi đùa sẽ không đưa đến một lợi ích tốt đẹp nào cho con đường tu tập, huống chi đến việc nói láo để mà giỡn cợt thì quả thật là điều không nên làm. Cuối cùng, Đức Phật dạy cho tôn giả Rāhula quán xét nội tâm, thấy việc nào đưa đến khổ đau, hãy từ bỏ và vững niềm tin mà hành động, không chỉ bắt tay vào làm, mà còn quán chiếu trong khi đang và sau khi làm, thông qua hình ảnh cái gương “Này Rāhula, sau khi phản tỉnh nhiều lần, hãy hành thân nghiệp… hãy hành khẩu nghiệp… hãy hành ý nghiệp” [9]. Cái gương ở đây không dùng để soi mặt, mà soi chiếu tâm hồn của chính mình cho phù hợp với nếp sống đạo đức và lời Phật dạy để trừ diệt mọi ý niệm, lời nói, hành vi bất thiện nhằm đem lại lợi ích cho mình và người. Bởi nếu tổn hại đến chính mình và người khác là chánh nhân của bất thiện pháp đưa đến đọa xứ khổ đau. Vì thế, bài pháp này còn được xem là đường lối phản tỉnh của tất cả Sa-môn chứ không phải của Đức Phật giảng dạy dành riêng cho Tôn giả. Trong bước chân đầu đời thực hành phạm hạnh, đây quả thật là những lời giáo huấn tâm niệm vô cùng tuyệt vời, đúng lúc, đúng thời, làm nền tảng để Rāhula hoàn thiện bản thân mình. Đây cũng là hàng rào giúp Tôn giả kiện toàn về giới hạnh, không vi phạm vào những quy định mà Đức Phật đề ra trong Tăng đoàn. Trong “Đại kinh Giáo Giới Rāhula” Đức Thế Tôn nhân buổi đi khất thực tại Sāvatthi Xá-vệ cùng Tôn giả Rāhula khi ấy đã được 18 tuổi, đã dạy Rāhula đối với Năm uẩn, Bốn đại… “Phải quán sát như thật với chánh trí tuệ cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải tự ngã của ta” [10]. Tôn giả quyết tâm nỗ lực tu tập, thực hành các thiện pháp ngõ hầu thăng tiến trên con đường tâm linh. Năm Tôn giả hai mươi tuổi, khi được truyền thọ Cụ túc giới sau 13 năm gia nhập Tăng đoàn, vào mùa an cư đầu tiên của Tỳ-kheo Rāhula, Đức Thế Tôn quán chiếu thấy Tôn giả đã thuần thục các pháp, trình độ tâm linh đã chín muồi cần được huấn luyện để đoạn tận các lậu hoặc. Đây là lần thứ hai, Đức Phật đi tìm Rāhula, gọi đến Andhavana giáo giới. Đức Thế Tôn dạy con mắt là vô thường, do vô thường chịu sự biến hoại, thời không có hợp lý khi quán cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi. Cũng như vậy, đối với sự quán chiếu về năm căn và năm trần, tất cả đều vô thường, khổ và vô ngã. “Vị đa văn thánh đệ tử là người nhìn thấy như vậy sẽ sanh khởi sự yếm ly, ly tham, do ly tham vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát là sự hiểu biết Ta đã được giải thoát. Và vị ấy biết Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa” [11]. Do huân tập căn lành từ vô lượng kiếp cùng với sự nỗ lực tu tập miên mật, không giải đãi, từ ngày gia nhập Tăng đoàn, qua bài thuyết giảng của Thế Tôn thì Rāhula được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không chấp thủ. Rāhula thành tựu được quả vị A-la-hán lúc 20 tuổi và trở thành vị A La Hán trẻ nhất trong Giáo hội. Những bài Kinh được Đức Thế Tôn giáo giới cho Tôn giả Rāhula chỉ mang con số khá khiêm tốn với các bài Kinh tiêu biểu như Ambalathika Rahulovada Sutta Kinh Giáo giới Rāhula ở rừng Ambala M,i,61; Maha Rahulovada Sutta Đại Kinh Giáo giới Rāhula M,i,62; Cula Rahulovada Sutta Tiểu Kinh Giáo giới Rāhula M,ii,147 cùng một vài bài kinh nói về tiến trình quán chiếu các pháp trong Tương Ưng bộ kinh. Tuy nhiên, nếu hệ thống lại theo tiến trình tu tập của Tam vô lậu học thì vào những năm đầu trở thành Sa-di Rāhula, Đức Thế Tôn đã dạy Tôn giả về đạo đức của một người xuất gia đó chính là con đường thành tựu Giới uẩn. Năm 18 tuổi, Ngài lại dạy Tôn giả về phương pháp thực tập thiền quán, con đường thành tựu Định uẩn. Cuối cùng, 20 tuổi được truyền thọ Cụ túc giới, sau khi quán chiếu các thiện pháp đã thành tựu thì Đức Phật dạy Rāhula về con đường đưa đến thành tựu Tuệ uẩn, chứng đắc đạo quả. Ngoài ra, mật hạnh dễ thương kín đáo, vâng lời và vô cùng cung kính với các bậc Tỳ-kheo của Rāhula còn được minh chứng trong Jātaka 16 Chuyện tiền thân Chuyện con nai có ba cử chỉ. “Thỉnh thoảng, các Tỳ kheo từ xa đến, vì mục đích thử thách, thường quăng bên ngoài cái các chổi hay một ít rác, chờ khi tôn giả đến và hỏi – Hiền giả, ai quăng đồ rác này?” Nếu không phải là một vị thật tu, thật học, chắc hẳn sẽ tìm mọi cách chứng minh cho sự trong sạch của mình hay làm ngơ bỏ đi để tránh gây phiền phức hoặc thưa con không biết việc này. Trái lại, “Tôn giả thường dọn rác ấy đi, im lặng, khiêm tốn xin lỗi và sau khi được tha lỗi mới đi” [12]. Với phương cách ứng xử ấy, Rāhula càng cho thấy được hạnh nhẫn nhục, khiêm nhường đã được thành tựu một cách sâu kín trong thân tâm của Tôn giả. Hơn thế nữa, khi Đức Phật quy định Tỳ-kheo nào nằm ngủ chung với người chưa thọ đại giới là phạm tội Pācittiya Ưng đối trị. Các vị Tỳ-kheo đã chỉ dạy Rāhula hãy tìm chỗ ở của mình vì trước đấy Tôn giả ngủ cùng với các vị khác. Rāhula không còn nơi để ngủ vì là người nhỏ nhất trong Tăng đoàn nhưng “Rāhula không đi đến Thế Tôn là phụ thân của mình, cũng không đi đến Sāriputta là vị tướng quân chánh pháp cũng là Giáo thọ sự của mình, cũng không đi đến Moggallāna là bậc Sư trưởng của mình, lại đi vào phòng vệ sinh của Thế Tôn, như thể đi vào cung điện Phạm thiên và trú ở đấy” [13]. Tranh Thangka Rāhula. Ảnh Lựa chọn nơi ở ấy Rāhula không vì cảnh sang trọng được làm bằng đất thơm, mà chính vì kính trọng lời khuyên bảo của các bậc trưởng thượng, vì muốn học tập nên trú chỗ ấy. Khi Phật hỏi, Tôn giả từ tốn bạch rằng “Vì không có chỗ, vì sợ phạm tội, không cho con chỗ ở; vì nghĩ rằng đây là chỗ không va chạm một ai, nên con nằm ở đây” [14]. Câu trả lời của Rāhula không có tâm ỷ lại là con của Thế Tôn, không chống đối, trách oán hay sân giận với các Tỳ kheo. Chính việc làm này đã khiến Đức Phật xúc động mạnh mẽ trong chánh pháp. “Này Xá-lợi-phất, nếu các ông vứt bỏ La-hầu-la như vậy, thì đối với các lớp trẻ mới xuất gia, có gì các ông không làm được? Nếu sự việc là vậy, những ai xuất gia trong giáo pháp này sẽ không ở lại. Bắt đầu từ hôm nay, các ông được phép cho người chưa thọ đại giới ở chung một hay hai ngày. Đến ngày thứ ba, cho họ ở ngoài, sau khi biết chỗ ở của họ” [15]. Tất cả những điều trên đã minh chứng cho đức hạnh kín đáo, thành tựu các oai nghi tế hạnh cũng như sự quyết tâm tu tập đạt đến tâm giải thoát và tuệ giải thoát của vị thánh Rāhula. HIỆN TRẠNG VÀ TƯƠNG LAI CỦA ĐỜI SỐNG PHẠM HẠNH Kinh Tương Ưng bộ, Đức Phật dạy về nguyên nhân mất đi diệu pháp rằng “Ở đây, này Kassapa, các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ sống không tôn kính, không tùy thuận bậc Đạo sư… không tùy thuận Chánh pháp… không tùy thuận chúng Tăng… không tùy thuận học giới… không tùy thuận đối với thiền định. Này Kassapa, chính những thối pháp này đưa đến sự hỗn loạn, sự biến mất của diệu pháp” [16]. Vì thế, những vấn đề được trình bày ở trên là các chuẩn mực mà Đức Phật đưa ra để làm sống dậy đời sống Tăng đoàn. Cho dù, đạo Phật là đạo của từ bi, trí tuệ, vô ngã, vị tha, nhưng không phải ai cũng có thể xuất gia được, cũng không phải ai cũng có thể tu tập và chứng đạo được. Thế nên, Luật Ma Ha Tăng Kỳ đưa ra 32 điều mà một người nếu phạm dù chỉ là một điều ví như lừa đảo, phạm ngũ nghịch, mù điếc, câm què… thì cũng không thể xuất gia được [17]. Ở đây, Thế Tôn không phải là không thể hiện tinh thần từ bi hay bất bình đẳng mà vì Ngài không muốn giáo pháp bị huỷ hoại bởi những người không đủ khả năng hay không đủ tư chất kham nhẫn mà hành trì những lời dạy thậm thâm vi diệu ấy. Thông qua những mật hạnh, phẩm chất của tôn giả Rāhula, người viết cho rằng Đây là cơ hội để tất cả những ai tự xem mình là Sứ giả Như Lai, đặc biệt là Tăng Ni trẻ cần phải quán xét sự thực hành phạm hạnh của bản thân. Cố gắng phát huy điểm tích cực, sửa đổi những mặt chưa được, chưa tốt để chuyển hóa thân tâm trong chánh pháp. Sau đó, dùng “thân” giáo để giáo hóa chúng sanh như tấm gương của Tôn giả Rāhula đã từng làm, đây cũng là cách vừa an toàn, vừa hiệu quả cho những ai muốn báo ân đức của Đức Từ phụ và tha thiết đoạn sanh tử luân hồi. Hay nói cách khác, mật hạnh của Tôn giả Rāhula là tấm gương sống, mẫu người lý tưởng cho những ai mong muốn vẹn toàn giữa đạo và đời SC. Thích Nữ Hạnh Liên Chú thích [1] Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh Tập I, Kinh Trường A Hàm, Taiwan, 2000, [2] Minh Châu dịch, Tăng Chi Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, [3] Tỳ kheo Minh Huệ dịch, Đại Phật Sử VI, Nxb Hồng Đức, 2019, [4] Minh Châu dịch, Tiểu Bộ Kinh tập III, Nxb Tôn giáo, 2018, [5] Minh Châu dịch, Tiểu Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, [6] HT Thích Trí Tịnh dịch, Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Nxb Tôn Giáo, 2011, [7] HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, [8] Sđd, [9] Sđd, [10] HT Thích Minh Châu dịch, Trung Bộ Kinh tập I, Nxb Tôn giáo, 2018, [11] Sđd, [12] HT Thích Minh Châu dịch, Tiểu Bộ Kinh tập III, Nxb Tôn giáo, 2018, [13 Sđd, [14] Sđd, [15]Sđd, [16] HT. Thích Minh Châu dịch, Tương Ưng Bộ Kinh, Nxb Tôn giáo, 2018, [17] Thích Trung Hữu, Đừng Ham Hành Đạo Sớm. Bài đăng trên báo Giác Ngộ, số 1020, 11/10/2019,

cái chết của la hầu la